Phân tích Hai đứa trẻ của Thạch Lam là đề văn quen thuộc trong chương trình Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo (Bài 2, tập 1). Đề thường xoay quanh bức tranh phố huyện, tâm trạng nhân vật Liên và ý nghĩa chuyến tàu đêm.
Bài viết gồm dàn ý chung và 6 bài văn mẫu: bài ngắn gọn, bài phân tích đầy đủ, bài phân tích nhân vật Liên, bài phân tích cảnh phố huyện lúc chiều tàn, bài phân tích chi tiết chuyến tàu đêm và bài cảm nhận về hình ảnh ngọn đèn. Các câu trích theo văn bản truyện đã hết thời hạn bảo hộ. Thông tin về tác giả, bố cục xem thêm bài Hai đứa trẻ (Thạch Lam): tác giả, tác phẩm.

Dàn ý phân tích Hai đứa trẻ
1. Mở bài
– Giới thiệu Thạch Lam: cây bút giàu chất thơ của Tự lực văn đoàn, chuyên viết truyện không có cốt truyện.
– Giới thiệu Hai đứa trẻ (in trong Nắng trong vườn, 1938): bức tranh phố huyện nghèo và niềm khao khát ánh sáng của những kiếp người nhỏ bé.
2. Thân bài
a. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
+ Thiên nhiên: tiếng trống thu không, bầu trời đỏ rực, dãy tre đen lại, tiếng ếch nhái, muỗi ⇒ đẹp, êm đềm mà buồn.
+ Cuộc sống: chợ tàn, rác rưởi, trẻ con nhà nghèo nhặt nhạnh, mẹ con chị Tí, cụ Thi điên ⇒ nghèo nàn, tàn tạ.
+ Tâm trạng Liên: buồn man mác, thương người nghèo.
b. Bức tranh phố huyện về đêm
+ Bóng tối bao trùm, ánh sáng chỉ là những quầng nhỏ (đèn chị Tí, bếp bác Siêu) ⇒ đối lập sáng – tối.
+ Những kiếp người quẩn quanh, đơn điệu, vẫn mong đợi “một cái gì tươi sáng”.
+ Liên nhớ Hà Nội, sống giữa hiện tại tẻ nhạt và quá khứ tươi đẹp.
c. Chuyến tàu đêm và tâm trạng chị em Liên
+ Lí do chờ tàu: không vì bán hàng mà vì muốn được nhìn chuyến tàu.
+ Đoàn tàu sáng rực, ồn ào, mang theo hình ảnh Hà Nội ⇒ biểu tượng cho một thế giới khác.
+ Tàu đi, phố huyện trở lại tịch mịch ⇒ khát khao thoát khỏi cuộc sống tăm tối.
d. Nghệ thuật
+ Truyện không có cốt truyện, đậm chất thơ; miêu tả tâm trạng tinh tế; đối lập sáng – tối; hình ảnh biểu tượng; ngôn ngữ nhẹ nhàng, giàu nhạc điệu.
3. Kết bài
– Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện.
– Cảm nghĩ của bản thân.
Phân tích Hai đứa trẻ ngắn gọn – mẫu 1
Thạch Lam là nhà văn có biệt tài viết những truyện ngắn không có cốt truyện mà vẫn khiến người đọc nhớ mãi. Hai đứa trẻ, in trong tập Nắng trong vườn, là truyện như thế. Qua một buổi chiều và một đêm ở phố huyện, tác giả bày tỏ niềm thương cảm với những kiếp người nghèo khổ và trân trọng ước mơ nhỏ bé của họ.
Truyện mở ra với cảnh chiều tàn: trống thu không điểm từng tiếng, phía tây “đỏ rực như lửa cháy”, “Một chiều êm ả như ru”. Cảnh đẹp nhưng buồn, như chính tâm trạng của Liên khi chị thấy “lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Bên cạnh thiên nhiên là cảnh chợ tàn, lũ trẻ nghèo lượm lặt, chị Tí với gánh hàng nước ế ẩm.
Đêm xuống, phố huyện chìm trong bóng tối. Ánh sáng chỉ còn là ngọn đèn nhỏ của chị Tí, bếp lửa bác Siêu. Những con người ấy sống lặp lại từng ngày, nhưng vẫn mong đợi “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Niềm mong đợi ấy hiện rõ nhất ở hai chị em Liên khi cố thức chờ chuyến tàu đêm. Đoàn tàu sáng rực đi qua như mang theo cả Hà Nội, khiến Liên lặng người mơ tưởng.
Bằng giọng văn nhẹ nhàng, giàu chất thơ và nghệ thuật đối lập sáng – tối, Thạch Lam đã viết nên một truyện ngắn đầy ám ảnh. Đọc Hai đứa trẻ, ta thêm thương những phận người lặng lẽ và hiểu rằng con người luôn cần một chút ánh sáng để sống.
Phân tích Hai đứa trẻ đầy đủ – mẫu 2
Trong nhóm Tự lực văn đoàn, Thạch Lam có một giọng văn riêng: nhẹ nhàng, tinh tế, thấm đượm tình thương với những người nghèo. Truyện của ông thường không có những biến cố lớn, mà như một bài thơ trữ tình bằng văn xuôi. Hai đứa trẻ, in trong tập Nắng trong vườn (1938), là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy. Truyện ghi lại một buổi chiều, một đêm ở phố huyện nghèo qua cái nhìn của Liên, qua đó thể hiện niềm cảm thương với cuộc sống tăm tối của người dân và sự trân trọng những khát khao đổi đời mơ hồ của họ.
Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn được vẽ bằng những nét vừa đẹp vừa buồn. Âm thanh mở đầu là tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ, “từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”. Màu sắc rực rỡ mà sắp tàn: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Đường nét rõ, tĩnh: dãy tre làng đen lại, cắt hình trên nền trời. Câu văn “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru” giàu nhịp điệu như một câu thơ. Thiên nhiên êm đềm nhưng nhuốm nỗi buồn của ngày tàn, và nỗi buồn ấy thấm vào tâm hồn Liên.
Đặt trong khung cảnh ấy là cuộc sống của con người. Chợ đã vãn, “Trên đất chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và bã mía”. Lũ trẻ nghèo cúi lom khom nhặt nhạnh những thứ người ta bỏ lại. Chị Tí ban ngày bắt cua bắt tép, đêm bày hàng nước dưới gốc bàng; hàng ế, nhưng chị chẳng bỏ buổi nào. Cụ Thi điên đến mua rượu rồi lảo đảo đi vào bóng tối. Còn Liên, cô bé từng sống ở Hà Nội, nay phải trông một gian hàng tạp hóa ế ẩm. Tất cả gợi một cuộc sống nghèo nàn, tàn tạ như cái chợ đã tan.
Khi đêm xuống, bóng tối trở thành nhân vật chính. “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”; lối ra sông, lối qua chợ đều thăm thẳm. Ánh sáng thì nhỏ nhoi, rời rạc: ngọn đèn chị Tí, bếp lửa bác Siêu, chút ánh đèn lọt qua khe phên. Sự đối lập giữa bóng tối mênh mông và ánh sáng le lói làm nổi bật kiếp sống mỏi mòn của con người. Thạch Lam viết về họ bằng một câu văn đầy cảm thông: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Cái “gì tươi sáng” ấy không rõ là gì, nhưng chính sự mong đợi đã cho thấy họ chưa hoàn toàn buông xuôi.
Niềm mong đợi ấy kết tinh trong hình ảnh hai chị em Liên chờ tàu. Các em không thức để bán hàng, vì giờ ấy hầu như chẳng ai ghé; các em thức “vì muốn được nhìn chuyến tàu”. Khi tàu đến, mọi thứ bỗng sáng bừng: các toa đèn sáng trưng, đồng và kền lấp lánh, các cửa kính sáng. Nhưng chỉ trong chốc lát, đoàn tàu lẫn vào màn đêm, chỉ còn một chấm đèn nhỏ dần rồi khuất sau rặng tre. Liên nghĩ: “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua”. Thế giới ấy là Hà Nội “sáng rực vui vẻ và huyên náo”, hoàn toàn khác với vầng sáng ngọn đèn chị Tí. Chi tiết chuyến tàu vì thế mang ý nghĩa biểu tượng: đó là ánh sáng, là ước mơ, là chút niềm vui hiếm hoi giúp con người quên đi cuộc sống tẻ nhạt.
Thành công của truyện còn đến từ nghệ thuật kể chuyện. Truyện kể ở ngôi thứ ba nhưng điểm nhìn đặt vào Liên, nên mọi cảnh vật đều nhuốm cảm xúc của nhân vật. Những rung động mơ hồ, khó nói thành lời được Thạch Lam nắm bắt tinh tế. Ngôn ngữ trong sáng, nhịp văn chậm rãi, nhiều câu văn như thơ. Hình ảnh ngọn đèn, bóng tối, đoàn tàu lặp lại nhiều lần, trở thành những biểu tượng giàu sức gợi.
Hai đứa trẻ vừa có giá trị hiện thực khi tái hiện chân thực đời sống phố huyện trước Cách mạng, vừa có giá trị nhân đạo sâu sắc ở niềm thương cảm và sự trân trọng ước mơ của con người. Khép trang sách lại, hình ảnh hai đứa trẻ ngồi trên chõng tre, ngước nhìn đoàn tàu vẫn còn đọng mãi, nhắc chúng ta biết nâng niu những khát vọng dù nhỏ bé nhất.
Phân tích nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ – mẫu 3
Thạch Lam không xây dựng nhân vật bằng những hành động lớn hay những biến cố gay cấn. Nhân vật Liên trong Hai đứa trẻ hiện lên chủ yếu qua cảm xúc, qua những rung động rất khẽ trước cảnh vật và con người nơi phố huyện. Chính vì vậy, Liên trở thành một trong những nhân vật tinh tế nhất của văn xuôi Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.
Trước hết, Liên có một tâm hồn nhạy cảm. Trước cảnh chiều tàn, “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị”. Liên không giải thích được nỗi buồn của mình: “Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Đó là nỗi buồn mơ hồ của một tâm hồn trẻ thơ lần đầu cảm nhận sự tàn phai. Liên cũng nhận ra trong mùi cát bụi quen thuộc “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
Liên còn là cô bé giàu lòng thương người. Thấy những đứa trẻ nhà nghèo nhặt nhạnh ở bãi chợ, “Liên trông thấy động lòng thương nhưng chính chị cũng không có tiền để mà cho chúng nó”. Chị hỏi han chị Tí, lặng lẽ rót rượu cho cụ Thi dù trong lòng hơi sợ. Tình thương ấy chân thành, tự nhiên, không cần lời nói.
Liên cũng là người chị biết lo toan, đảm đang. Chị trông hàng thay mẹ, đếm tiền, xếp hàng, chăm sóc em. Chiếc chìa khóa đeo ở dây xà tích bạc khiến chị “quý mến và hãnh diện, vì nó tỏ ra chị là người con gái lớn và đảm đang”. Khi An ngủ, Liên khẽ quạt cho em, vuốt lại mái tóc tơ, ngồi yên không động đậy để em ngủ ngon. Những chi tiết nhỏ ấy cho thấy một cô bé sớm trưởng thành trong hoàn cảnh khó khăn.
Điều đặc biệt nhất ở Liên là niềm khao khát ánh sáng. Liên mang trong mình kí ức về Hà Nội, nơi chị từng có quà ngon, được dạo chơi bờ hồ. Hà Nội trong kí ức là “một vùng sáng rực và lấp lánh”. Vì vậy, chuyến tàu đêm có ý nghĩa đặc biệt với Liên: chị cố thức chỉ để được nhìn nó. Khi tàu qua, Liên “lặng theo mơ tưởng”, nghĩ về một Hà Nội xa xăm. Đến cuối truyện, Liên mơ hồ cảm thấy mình cũng chỉ như ngọn đèn con của chị Tí, soi được một khoảng đất bé nhỏ giữa bao điều xa lạ. Ở đây, cô bé đã mơ hồ nhận ra sự nhỏ bé, chật hẹp của cuộc đời mình.
Qua nhân vật Liên, Thạch Lam gửi gắm tình thương với những đứa trẻ sớm phải sống trong nghèo khó, đồng thời trân trọng vẻ đẹp tâm hồn và ước mơ trong trẻo của các em. Liên là nhân vật để lại nhiều dư vị bởi chính sự lặng lẽ, kín đáo của mình.
Phân tích cảnh phố huyện lúc chiều tàn – mẫu 4
Đoạn mở đầu Hai đứa trẻ là một bức tranh chiều quê được vẽ bằng ngòi bút vừa của họa sĩ vừa của nhà thơ. Chỉ trong vài đoạn văn ngắn, Thạch Lam đã tạo nên một không khí riêng cho toàn bộ truyện: êm đềm, buồn bã và thấm đượm tình người.
Bức tranh mở ra bằng âm thanh: “Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều”. Tiếng trống như một hiệu lệnh khép lại ngày dài. Tiếp đến là màu sắc: “Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Hai phép so sánh vừa gợi vẻ rực rỡ vừa báo hiệu sự lụi tắt. Dãy tre làng “đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời”, nét vẽ đơn giản mà rõ ràng như tranh cắt giấy.
Câu văn “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” có nhịp điệu chậm rãi, ngân nga. Điệp từ “chiều” như một tiếng thở dài nhẹ. Cảnh vật yên bình đến mức như đang ru người, nhưng chính sự yên bình ấy lại gợi buồn.
Cảnh chiều không chỉ có thiên nhiên mà còn có con người. Chợ họp giữa phố “vãn từ lâu”, trên mặt đất rác rưởi vương vãi. Những đứa trẻ nhà nghèo lom khom tìm kiếm; mẹ con chị Tí dọn hàng muộn; cụ Thi điên đến mua rượu. Những hình ảnh tàn tạ ấy hòa với cảnh ngày tàn, làm nên một bức tranh buồn về cuộc sống nghèo khổ.
Trung tâm của bức tranh là tâm trạng Liên. Cảnh vật được nhìn qua mắt Liên, và nỗi buồn của cảnh thấm vào lòng Liên. Mùi ẩm của đất, của cát bụi khiến chị em Liên nghĩ “là mùi riêng của đất, của quê hương này”. Ở đây, cảnh và tình hòa làm một: cảnh buồn vì người buồn, người buồn vì cảnh buồn.
Đoạn văn cho thấy biệt tài của Thạch Lam trong việc dùng văn xuôi để tạo nên chất thơ. Bức tranh chiều tàn không chỉ đẹp mà còn chứa đựng niềm cảm thương sâu sắc với những con người nhỏ bé nơi phố huyện nghèo.
Phân tích chi tiết chuyến tàu đêm trong Hai đứa trẻ – mẫu 5
Trong một truyện ngắn gần như không có sự kiện, chuyến tàu đêm là sự kiện lớn nhất. Nó xuất hiện ở cuối truyện, nhưng được chuẩn bị từ trước bằng sự chờ đợi của hai chị em Liên, và để lại dư âm sâu lắng sau khi đã đi qua.
Thạch Lam cho biết rõ lí do hai chị em thức khuya. Mẹ dặn phải thức đợi tàu để may ra bán thêm, nhưng Liên biết đêm khuya chẳng còn ai mua. “Liên và em cố thức là vì cớ khác, vì muốn được nhìn chuyến tàu”. Chuyến tàu là “sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”, là điều duy nhất phá vỡ sự đơn điệu của phố huyện.
Đoàn tàu được miêu tả qua những đối lập gay gắt với cuộc sống phố huyện. Phố huyện tối tăm thì tàu sáng trưng: “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”. Phố huyện im lặng thì tàu “rầm rộ đi tới”. Phố huyện nghèo nàn thì trên tàu là “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Nhưng tất cả chỉ thoáng qua: “Rồi chiếc tàu đi vào đêm tối, để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”.
Với Liên, chuyến tàu gợi về Hà Nội. “Liên lặng theo mơ tưởng. Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”. Câu văn “Con tàu như đã đem một chút thế giới khác đi qua” cho thấy đoàn tàu là biểu tượng của một thế giới khác hẳn: rộng lớn, sáng sủa, sôi động. Đó cũng là quá khứ tươi đẹp của gia đình Liên và là ước mơ mơ hồ về một tương lai khác.
Chi tiết chuyến tàu đêm ấy “thưa vắng người và hình như kém sáng hơn” cũng rất đáng chú ý. Nó cho thấy ánh sáng mà các em mong chờ cũng không trọn vẹn, cuộc sống chung đang tàn lụi dần. Nhưng dù vậy, chị em Liên vẫn chờ, vẫn mong. Đó là niềm khát khao không tắt của con người.
Qua chi tiết chuyến tàu, Thạch Lam bày tỏ niềm cảm thông với những con người phải sống trong tăm tối, đồng thời như muốn đánh thức họ, đánh thức người đọc về một cuộc sống khác tốt đẹp hơn. Đây là chi tiết giàu ý nghĩa nhân đạo nhất của tác phẩm.
Cảm nhận hình ảnh ngọn đèn chị Tí trong Hai đứa trẻ – mẫu 6
Đọc Hai đứa trẻ, nhiều người nhớ đoàn tàu sáng rực; còn tôi lại nhớ mãi một ngọn đèn nhỏ: ngọn đèn hàng nước của chị Tí. Hình ảnh ấy lặp đi lặp lại trong truyện, lặng lẽ như chính cuộc đời những người dân phố huyện.
Ngọn đèn xuất hiện lần đầu khi chị Tí kéo nó lại gần để têm trầu. Khi đêm xuống, trong bóng tối mênh mông, hai chị em Liên chúi nhìn về “quầng sáng thân mật chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng hàng của chị Tí”. Ngọn đèn trở thành trung tâm của phố huyện về đêm: “Tất cả phố xá trong huyện bây giờ thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Những người nghèo như bác Siêu, gia đình bác xẩm, mấy bác phu đều quây quần quanh vùng sáng nhỏ ấy.
Ánh sáng của ngọn đèn rất yếu, chỉ đủ chiếu một khoảng đất. Đặt bên bóng tối dày đặc, nó càng trở nên nhỏ nhoi. Đến cuối truyện: “Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xôi không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”. Lúc này, ngọn đèn đã trở thành biểu tượng cho kiếp người nhỏ bé, sống thu mình trong một khoảng chật hẹp, không biết gì về thế giới rộng lớn ngoài kia.
Nhưng ngọn đèn ấy cũng là một niềm an ủi. Nó “thân mật”, nó quy tụ những con người cô đơn, cho họ một chỗ dựa giữa bóng tối. Ngọn đèn không tắt suốt đêm, như cuộc sống của những người nghèo vẫn bền bỉ tiếp diễn, dẫu buồn tẻ.
Hình ảnh ngọn đèn cho thấy tài năng của Thạch Lam: chỉ một chi tiết bình thường cũng được ông nâng lên thành biểu tượng giàu ý nghĩa. Nó khiến tôi thương những phận người lam lũ và biết trân trọng những ánh sáng nhỏ trong cuộc đời mình.
Kết luận
Khi phân tích Hai đứa trẻ, em nên bám vào ba thời điểm của truyện và chú ý hai hướng: bức tranh hiện thực phố huyện và thế giới tâm trạng của Liên. Đừng quên làm rõ ý nghĩa biểu tượng của bóng tối, ngọn đèn, đoàn tàu và chất thơ trong văn Thạch Lam.
Xem thêm:
- Soạn bài Hai đứa trẻ – Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo
- Phân tích truyện Gió lạnh đầu mùa (Thạch Lam)
- Phân tích truyện Dưới bóng hoàng lan (Thạch Lam)
- Mở bài Hai đứa trẻ hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao
- Kết bài Hai đứa trẻ hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề