Tác phẩm Nam Cao là những trang văn hiện thực day dứt bậc nhất của văn học Việt Nam trước năm 1945: người nông dân bị tha hóa như Chí Phèo, lão nông nghèo giữ trọn nhân cách như lão Hạc, người trí thức “sống mòn” trong cơm áo. Sau Cách mạng, ông tiếp tục viết về kháng chiến cho đến khi hi sinh năm 1951. Hãy cùng Văn VN điểm qua các tác phẩm tiêu biểu, những bài học trong sách giáo khoa và phong cách riêng của Nam Cao.
Đôi nét về nhà văn Nam Cao
Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn trước Cách mạng tháng Tám, đồng thời là nhà báo kháng chiến và liệt sĩ. Ông có đóng góp quan trọng vào việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

- Tên thật: Trần Hữu Tri.
- Bút danh: Nam Cao (ghép chữ đầu của tên huyện Nam Sang và tổng Cao Đà quê ông); ngoài ra còn ký Thúy Rư, Xuân Du, Nguyệt.
- Năm sinh – năm mất: 29/10/1915 (giấy khai sinh ghi năm 1917) – tháng 11/1951.
- Quê quán: làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam (nay thuộc xã Nam Lý, tỉnh Ninh Bình).
- Thể loại chính: truyện ngắn, tiểu thuyết, nhật ký, bút ký.
- Giải thưởng: truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996).
Nam Cao xuất thân trong một gia đình Công giáo ở nông thôn, học ở Nam Định. Cuối năm 1935 ông vào Sài Gòn làm thư ký cho một hiệu may và bắt đầu gửi truyện đăng báo; những truyện đầu tiên in trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy dưới bút danh Thúy Rư. Trở ra Bắc vì ốm, ông dạy học ở trường tư thục Công Thanh (Hà Nội). Năm 1941, tập truyện Đôi lứa xứng đôi ra đời và được đón nhận như một hiện tượng văn học.
Tháng 6/1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc. Sau Cách mạng, ông làm báo, lên Việt Bắc làm thư ký tòa soạn báo Cứu quốc Việt Bắc, rồi công tác ở Hội Văn nghệ Việt Nam, tham gia Chiến dịch Biên giới 1950. Cuối năm 1951, trên đường đi công tác vào vùng địch hậu ở Ninh Bình, ông bị địch bắt và bắn chết. Tìm đọc thêm bài viết Nhà văn Nam Cao, day dứt phận người để hiểu rõ hơn cuộc đời ông.
Xem tiểu sử tác giả Nam Cao – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Nam Cao có những tác phẩm nào?
Sự nghiệp của Nam Cao chia làm hai chặng: trước năm 1945 với đề tài người nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản; sau năm 1945 với truyện, bút ký, nhật ký về kháng chiến. Dưới đây là những tác phẩm chính:
Tiểu thuyết
- Truyện người hàng xóm (1944, đăng báo nhiều kỳ).
- Sống mòn (viết xong 1944, xuất bản 1956; tên ban đầu là Chết mòn).
Truyện ngắn trước Cách mạng
- Dì Hảo (1941).
- Chí Phèo (1941).
- Giăng sáng (1942), còn có tên Trăng sáng.
- Trẻ con không được ăn thịt chó (1942).
- Đời thừa (1943).
- Lão Hạc (1943).
- Một bữa no (1943).
- Tư cách mõ (1943).
- Một đám cưới (1944).
- Các truyện khác: Nửa đêm, Điếu văn, Đôi móng giò, Lang Rận, Nghèo, Đui mù…
Truyện ngắn và truyện ký sau Cách mạng
- Mò sâm banh (1945).
- Đôi mắt (1948).
- Đường vô Nam (bút ký).
- Ở rừng (nhật ký).

Ngoài văn chương, Nam Cao còn làm thơ và cùng Văn Tân biên soạn một số sách địa lý như Địa dư các nước châu Âu (1948).
Những tác phẩm tiêu biểu của Nam Cao
Nhiều truyện của Nam Cao được dạy trong nhà trường qua nhiều thế hệ. Các truyện dưới đây đều có bài soạn, bài phân tích trên Văn VN để bạn đọc tiếp.
1/ Chí Phèo (1941)
Chí Phèo vốn có tên trong bản thảo là Cái lò gạch cũ. Khi in lần đầu năm 1941, nhà xuất bản Đời mới đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi; đến khi in lại trong tập Luống cày của Hội Văn hóa cứu quốc, tác giả đặt tên là Chí Phèo.

Truyện kể về Chí Phèo, một đứa trẻ bị bỏ rơi ở làng Vũ Đại, lớn lên làm canh điền hiền lành. Bị Bá Kiến đẩy vào tù, hắn trở về thành kẻ say rượu, rạch mặt ăn vạ, làm tay sai cho chính kẻ đã hại mình. Cuộc gặp với Thị Nở và bát cháo hành đã đánh thức khát vọng làm người lương thiện, nhưng khi bị cự tuyệt, Chí đến nhà Bá Kiến đâm chết hắn rồi tự sát.
Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. […] Ai cho tao lương thiện?
Có thể thấy, Chí Phèo vừa tố cáo xã hội đã cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính của người nông dân, vừa khẳng định bản chất lương thiện không bị hủy diệt hoàn toàn. Nghệ thuật trần thuật linh hoạt, ngôn ngữ nửa trực tiếp và những chi tiết như cái lò gạch cũ, bát cháo hành khiến truyện trở thành kiệt tác của văn xuôi hiện đại.
Đọc thêm: Chí Phèo – tóm tắt, sơ đồ tư duy, bố cục; phân tích Chí Phèo; phân tích nhân vật Chí Phèo; suy nghĩ về chi tiết bát cháo hành; thuyết minh Chí Phèo; mở bài, kết bài Chí Phèo.
2/ Lão Hạc (1943)
Lão Hạc là truyện ngắn viết năm 1943 về một lão nông nghèo có con trai phải bỏ đi đồn điền cao su vì không đủ tiền cưới vợ. Lão ở lại với con chó Vàng – kỷ vật của con – và mảnh vườn mà lão quyết giữ trọn cho con.

Ốm đau, đói kém, lão đành bán cậu Vàng và day dứt vì nghĩ mình đã “đánh lừa một con chó”. Lão gửi ông giáo mảnh vườn cùng số tiền dành dụm để lo ma chay, rồi xin Binh Tư bả chó và tự kết liễu đời mình. Cái chết đau đớn ấy cho thấy lòng tự trọng và tình thương con của người nông dân nghèo.
Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn; không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương: không bao giờ ta thương…
Lời của nhân vật ông giáo cũng là quan niệm nhân đạo của Nam Cao: phải nhìn con người bằng sự thấu hiểu. Đọc thêm: tác phẩm Lão Hạc (SGK lớp 12 sách mới); các mẫu phân tích truyện ngắn Lão Hạc; phân tích nhân vật Lão Hạc.
3/ Đời thừa (1943)
Đời thừa kể về Hộ, một nhà văn nghèo có hoài bão viết một tác phẩm lớn nhưng phải viết vội những cuốn sách nhạt nhẽo để nuôi vợ con. Bi kịch của Hộ là bi kịch của người trí thức giằng xé giữa lý tưởng nghệ thuật và gánh nặng cơm áo, giữa lòng thương người và sự bức bối khiến hắn có lúc đối xử tệ với chính người vợ hiền là Từ.
Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi. Nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật là đê tiện.
Câu văn của Hộ sau này thường được xem như một tuyên ngôn về trách nhiệm của người cầm bút.
4/ Trăng sáng (1942)
Trăng sáng (còn có tên Giăng sáng) kể về Điền, một nhà văn trẻ muốn viết những trang lãng mạn về ánh trăng nhưng rồi nhận ra cuộc sống khốn khó của gia đình và người nghèo quanh mình. Truyện chứa quan niệm nổi tiếng rằng nghệ thuật không cần phải là “ánh trăng lừa dối”, mà có thể chỉ là tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp lầm than.
Đây là một trong những tuyên ngôn nghệ thuật quan trọng của văn học hiện thực giai đoạn 1930–1945. Xem thêm bài giải thích câu nói Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối.
5/ Sống mòn (viết xong 1944)
Sống mòn là tiểu thuyết lớn nhất của Nam Cao, ban đầu có tên Chết mòn, đến năm 1956 mới được xuất bản. Nhân vật chính là Thứ, một giáo viên trường tư ở ven Hà Nội do người họ hàng là Đích và vợ chưa cưới Oanh mở. Cùng với San và những người quanh mình, Thứ sống trong cảnh nghèo túng, nhỏ nhen, để những ước mơ tuổi trẻ mòn dần theo năm tháng.
Tác phẩm là bức chân dung sâu sắc về tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo trước Cách mạng: họ không chết vì đói ngay, mà “mòn” đi cả về vật chất lẫn tinh thần.
6/ Đôi mắt (1948)
Đôi mắt được viết ở chiến khu năm 1948, là truyện ngắn tiêu biểu nhất của Nam Cao sau Cách mạng. Truyện đặt cạnh nhau hai nhà văn: Hoàng sống tản cư sung túc, nhìn người nông dân bằng con mắt khinh miệt; Độ gắn bó với kháng chiến, nhìn thấy những phẩm chất tốt đẹp của họ.
Từ hai cách nhìn ấy, Nam Cao đặt ra vấn đề “đôi mắt” – tức lập trường, quan điểm – của người nghệ sĩ trước nhân dân và thời đại mới. Truyện cho thấy bước chuyển trong tư tưởng của chính ông sau năm 1945.
Tác phẩm của Nam Cao trong sách giáo khoa Ngữ văn
Theo chương trình Ngữ văn 2018, hai truyện ngắn Lão Hạc và Chí Phèo có mặt ở nhiều bộ sách:
| Tác phẩm | Lớp – bộ sách | Bài học |
|---|---|---|
| Lão Hạc | Lớp 8 – Cánh diều (tập 2) | Bài 6: Truyện |
| Chí Phèo | Lớp 11 – Kết nối tri thức (tập 1) | Bài 1: Câu chuyện và điểm nhìn trong truyện kể |
| Chí Phèo | Lớp 11 – Cánh diều (tập 1) | Bài 3: Truyện |
| Lão Hạc | Lớp 12 – Chân trời sáng tạo (tập 1) | Bài 2: Những ô cửa nhìn ra cuộc sống |
Ngoài ra, sách Ngữ văn 8 Cánh diều (tập 2, bài 9) còn có văn bản nghị luận “Chiều sâu của truyện Lão Hạc” của Văn Giá. Bài soạn có sẵn: Soạn bài Chí Phèo – Ngữ văn 11 Kết nối tri thức và Soạn bài Lão Hạc – Văn 12 Chân trời sáng tạo.
Phong cách sáng tác của Nam Cao
Có thể khái quát phong cách Nam Cao qua mấy điểm:
- Hiện thực tâm lý: không dừng ở hoàn cảnh bên ngoài mà đi sâu vào những giằng xé bên trong nhân vật, nhất là quá trình tha hóa và thức tỉnh.
- Chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc: luôn đi tìm phần người còn lại trong những số phận bị vùi dập.
- Hai đề tài lớn: người nông dân nghèo và người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng.
- Giọng văn đa thanh: vừa lạnh lùng, tỉnh táo, vừa đau đớn, xót thương; ngôn ngữ nửa trực tiếp và độc thoại nội tâm được dùng nhuần nhuyễn.
Lời kết
Tác phẩm Nam Cao không nhiều về số trang nhưng mỗi truyện đều đặt ra câu hỏi lớn về phẩm giá con người trong cảnh nghèo đói. Từ Chí Phèo, Lão Hạc đến Đời thừa, Đôi mắt, ông để lại một di sản vừa hiện thực vừa nhân đạo mà người đọc hôm nay vẫn còn day dứt.
Xem thêm: những tác phẩm của Tô Hoài, tác phẩm Nguyễn Minh Châu, những tác phẩm của Lỗ Tấn.
Xem thêm: tác phẩm Ngô Tất Tố, tác phẩm Thạch Lam, tác phẩm Vũ Trọng Phụng.