Lè nhè là kiểu nói hoặc khóc kéo dài, giọng trầm và rè, chữ nọ dính chữ kia nên nghe không rõ, khiến người bên cạnh khó chịu. Người ta hay gặp giọng lè nhè ở người say rượu, cũng có lúc là đứa trẻ khóc lè nhè mãi không dứt. Hiểu “nói lè nhè” là gì thì cứ nhớ hình ảnh một câu nói bị kéo lê trên mặt đất.
| Nghĩa ngắn | Nói (hoặc khóc) kéo dài, giọng trầm, rè, không rõ tiếng |
| Loại từ | Động từ, từ láy; cũng dùng như tính từ: giọng lè nhè |
| Hay gặp khi | Say rượu, buồn ngủ, mệt; trẻ con khóc dai |
| Sắc thái | Khẩu ngữ, hơi chê, không dùng trong văn bản trang trọng |

Lè nhè nghe ra sao?
Thử hình dung cuối bữa liên hoan, một chú ngồi tựa ghế, cầm chén rượu và kể đi kể lại một chuyện. Câu nào cũng bị kéo dài ở cuối, âm thanh trầm, khàn, các tiếng chảy vào nhau. Người ngồi cạnh phải ghé sát tai mới đoán được ý. Đó là lè nhè.
Các từ điển tiếng Việt thống nhất ở ba nét. Thứ nhất là giọng trầm, có khi rè. Thứ hai là kéo dài, dai dẳng. Thứ ba là không rõ tiếng, và hệ quả là người nghe thấy khó chịu. Thiếu một nét, từ này dùng sẽ trật: một người nói chậm mà rành mạch thì không gọi là lè nhè; người nói nhỏ nhưng gọn câu cũng không phải.
Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi chú thêm “thường là khi say rượu”, còn bản của Hồ Ngọc Đức mở rộng sang cả tiếng khóc: khóc lè nhè mãi. Nhờ vậy ta có hai cách dùng quen:
- Nói lè nhè: Mới ba lon bia mà anh ấy đã nói lè nhè, hỏi gì cũng ừ.
- Khóc lè nhè: Thằng cu buồn ngủ nên cứ lè nhè trên vai mẹ suốt đường về.
Một từ láy vần e
Về cấu tạo, lè nhè là từ láy: hai tiếng khác phụ âm đầu (l và nh) nhưng chung vần “e” và chung thanh huyền. Thanh huyền vốn là thanh thấp, đi ngang; hai tiếng thấp đặt liền nhau tạo đúng cái cảm giác trầm, nặng, kéo lê mà từ muốn tả. Đọc to “lè nhè” lên là thấy giọng mình tự trùng xuống.
Tiếng “nhè” đứng riêng cũng quen với nhiều nhà có con nhỏ qua cụm khóc nhè, chỉ kiểu khóc dai, khóc vòi. Có lẽ vì thế mà khi nói về trẻ con, lè nhè gợi đúng tiếng khóc rỉ rả, không to nhưng không chịu tắt. Gần âm còn có kè nhè: từ điển xếp là đồng nghĩa, nhưng kè nhè thường nghiêng về nói dai để đòi cho bằng được, như đứa trẻ kè nhè đòi mua đồ chơi.
Đặt lè nhè cạnh lải nhải, lầu bầu, ngọng
Mấy từ dưới đây đều tả cách nói khiến người nghe mệt, nhưng mỗi từ nhắm vào một chỗ khác nhau:
| Từ | Chỗ khó chịu nằm ở đâu | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lè nhè | Giọng trầm, kéo dài, không rõ tiếng | Say rồi nói lè nhè |
| Kè nhè | Nói dai, giọng kéo, để đòi một điều gì | Kè nhè đòi đi chơi |
| Lải nhải | Rõ tiếng nhưng lặp đi lặp lại một chuyện | Lải nhải mãi một câu dặn |
| Lầu bầu | Nói nhỏ trong miệng, tỏ ý bực, không cho ai nghe rõ | Vừa quét nhà vừa lầu bầu |
| Nói ngọng | Phát âm sai một số âm do thói quen hay giọng vùng | Ngọng l thành n |
Ranh giới dễ nhòe nhất là giữa lè nhè và lải nhải. Một người say có thể vừa lè nhè vừa lải nhải: giọng thì kéo lê, nội dung thì quay vòng. Nhưng một người tỉnh táo cằn nhằn con cả buổi chỉ là lải nhải, không lè nhè. Còn khi trẻ con vừa khóc vừa nài, cái cần gọi tên là kiểu nũng nịu mè nheo của trẻ nhỏ, lè nhè chỉ tả cái giọng đi kèm. Với kiểu nói nhiều mà không ăn nhập vào đâu, tiếng Việt có từ khác hẳn, xem bài nói tràng giang không đầu không cuối.
Giọng lè nhè trong trang văn và lời ăn tiếng nói
Nhà văn hay dùng lè nhè để vẽ chân dung người say chỉ bằng một chữ. Từ điển của Hồ Ngọc Đức còn dẫn một câu văn của Nam Cao tả giọng nhân vật vừa lè nhè vừa méo mó. Văn hiện thực trước 1945 ghi lại khá nhiều giọng nói như thế, và đó cũng là một nét trong lối viết đậm khẩu ngữ nông thôn của Nam Cao.
Trong đời thường, vài câu tự đặt cho dễ hình dung:
- Tối nào đi nhậu về bố cũng gọi cửa lè nhè, mẹ chỉ biết thở dài.
- Đêm qua thức khuya, sáng nay vào lớp mình đọc bài cứ lè nhè như người ngái ngủ.
- Con bé ốm, nằm lè nhè gọi mẹ cả đêm.
Lưu ý: ở câu thứ hai, lè nhè đã mang nghĩa hơi rộng ra, tả giọng uể oải chứ không phải say. Cách dùng này vẫn tự nhiên vì giữ được nét trầm, kéo, không rõ. Còn viết “người say xỉn” thì nhớ chữ x, có bài riêng về chuyện say xỉn viết s hay x. Điều nên tránh: đừng dùng lè nhè để chê giọng một người có tật về phát âm, vì từ này mang ý trách cứ, mà tật thì chẳng ai chọn.
Văn chương xưa còn có cách gọi trang nhã cho dân ham rượu là đệ tử của Lưu Linh, theo tích về ông Lưu Linh.
Lè nhè khi nói, khi khóc và khi dịch
Nói lè nhè nghĩa là gì?
Là nói bằng giọng trầm, kéo dài, các tiếng dính vào nhau nên người nghe không rõ. Cụm này hầu như luôn gắn với người say rượu hoặc người đang rất buồn ngủ, mệt.
Khóc lè nhè khác khóc nhè thế nào?
Khóc nhè nhấn vào chuyện khóc dai, khóc vòi. Khóc lè nhè tả thêm cái âm thanh: tiếng khóc nhỏ, trầm, rỉ rả kéo dài, không òa lên mà cũng không chịu nín.
Giọng lè nhè trong tiếng Anh nói thế nào?
Người ta hay dùng slur (nói líu nhíu, nhất là khi say) hoặc drawl (kéo dài giọng). Câu “nói lè nhè vì say” có thể dịch là slur one’s words.
Lè nhè có phải từ thô tục không?
Không. Đây là từ khẩu ngữ có ý chê nhẹ, dùng được trong văn kể chuyện, nhưng không nên dùng để nói thẳng vào mặt người lớn tuổi hay trong văn bản trang trọng.