Soạn bài Sự ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt Trái Đất và hậu quả giúp em trả lời đầy đủ các câu hỏi trước, trong và sau khi đọc cùng bài tập sáng tạo ở trang 92 – 97, Bài 9 (Khám phá tự nhiên và xã hội – Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tập hai. Văn bản trích từ cuốn Mùa xuân vắng lặng của nhà sinh vật học người Mỹ Rây-cheo Ca-sơn, cảnh báo con đường thuốc trừ sâu theo dòng nước đi vào chuỗi thức ăn và đe dọa sức khỏe con người.
Tìm hiểu chung về văn bản Sự ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt Trái Đất và hậu quả
Văn bản được dịch từ một cuốn sách khoa học nổi tiếng, nên em cần nắm thông tin về tác giả, bản dịch và cách tổ chức các đề mục.

Tác giả Rây-cheo Ca-sơn
Rây-cheo Ca-sơn (Rachel Carson, 1907 – 1964) là nhà sinh vật học biển, nhà văn người Mỹ. Bà từng làm việc nhiều năm trong cơ quan quản lí nghề cá và động vật hoang dã của Mỹ, nổi tiếng trước hết với những cuốn sách viết về đại dương bằng giọng văn vừa chính xác vừa giàu chất thơ, như Biển quanh ta (The Sea Around Us). Năm 1962, bà xuất bản Mùa xuân vắng lặng (Silent Spring), tố cáo tác hại của việc lạm dụng thuốc trừ sâu tổng hợp như DDT. Cuốn sách gây chấn động dư luận, góp phần thúc đẩy phong trào bảo vệ môi trường hiện đại và việc nước Mỹ cấm dùng DDT trong nông nghiệp năm 1972.
Xuất xứ, bản dịch, thể loại
- Xuất xứ: trích Mùa xuân vắng lặng; phần trích thuộc chương sách bàn về nước mặt và nước ngầm, có lược bớt nhiều đoạn (đánh dấu […]). Nhan đề đoạn trích và các đề mục do người biên soạn SGK đặt.
- Bản dịch: SGK ghi nguồn là bản dịch Mùa xuân vắng lặng của nhóm dịch Khánh An (NXB Thế giới, 2018, trang 63 – 70); loigiaihay và VietJack chép lại cùng chú thích này.
- Thể loại: thuộc nhóm văn bản thông tin khoa học; phương thức chính là thuyết minh, kết hợp nghị luận và miêu tả.
Bố cục
- Đoạn mở: khẳng định nước ngầm lẫn dòng chảy trên bề mặt đều đang bị ô nhiễm.
- Phần 1 (đề mục về bằng chứng ô nhiễm): chim chết hàng loạt năm 1960 ở những khu bảo tồn chim di trú Tu-li Lây-kơ, Lâu-ơ Cla-mát; dư lượng thuốc trừ sâu trong chim, cá, sinh vật phù du.
- Phần 2 (đề mục về hóa chất trong vòng tuần hoàn): câu chuyện Hồ Cli-a: dùng DDD diệt muỗi mắt dẫn tới chim lặn chết, chất độc tích tụ qua chuỗi thức ăn.
- Phần 3 (đề mục về con người): DDD tác động tới vỏ thận; nguy cơ ung thư từ nước uống nhiễm hóa chất, a-xê-nít.
- Đoạn kết: mọi thứ trong tự nhiên đều liên hệ với nhau, chuyển sang vấn đề đất.
Nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: chỉ ra thực trạng ô nhiễm nước mặt do thuốc trừ sâu, cơ chế hóa chất tích tụ và khuếch đại qua chuỗi thức ăn, hậu quả đối với sinh vật và con người; đặt ra câu hỏi về sự khôn ngoan của việc dùng hóa chất để khống chế côn trùng.
- Nghệ thuật: đề mục rõ ràng; số liệu, địa danh, mốc thời gian cụ thể; câu chuyện Hồ Cli-a được kể như một ví dụ điển hình có diễn biến; câu hỏi gợi mở; giọng văn khách quan mà vẫn thấm nỗi lo âu, xót xa trước sự sống bị tổn hại.
Soạn bài Sự ô nhiễm nguồn nước – Trước khi đọc (trang 92)
Câu hỏi khởi động gợi em quan sát thực tế nơi mình sống trước khi đọc văn bản.
Câu 1: Ô nhiễm nguồn nước nơi bạn sống: nguyên nhân và hậu quả (trang 92)
Nơi bạn sống có tình trạng ô nhiễm nguồn nước không? Nếu có, hãy cho biết một vài nguyên nhân và hậu quả của nó.
Trả lời:
Em trả lời theo thực tế địa phương mình. Gợi ý: con kênh gần nhà em có thời điểm nước đen, bốc mùi, nổi bọt.
- Nguyên nhân: nước thải sinh hoạt của các hộ dân chưa qua xử lí đổ thẳng xuống kênh; rác thải nhựa bị vứt bừa bãi; một số cơ sở sản xuất nhỏ xả nước thải; ở vùng ven, phân bón và thuốc bảo vệ thực vật từ ruộng theo nước mưa chảy xuống.
- Hậu quả: cá chết, hệ sinh vật dưới nước suy giảm; mùi hôi ảnh hưởng sinh hoạt; muỗi, ruồi phát triển, dễ gây bệnh đường ruột, bệnh ngoài da; nguồn nước tưới tiêu kém chất lượng; cảnh quan xấu đi.
Soạn bài Sự ô nhiễm nguồn nước – Câu hỏi trong khi đọc (trang 93 – 96)
Năm câu hỏi bên lề rèn kĩ năng đọc quét, theo dõi và suy luận, bám theo diễn biến của câu chuyện Hồ Cli-a.
Câu 1 (Đọc quét): Hóa chất được tìm thấy trong cơ thể chim, cá (trang 93)
Những hoá chất nào được tìm thấy trong cơ thể các loài chim, cá?
Trả lời:
Phân tích xác các loài chim sống nhờ cá như diệc, bồ nông, chim lặn, mòng biển, người ta phát hiện thuốc trừ sâu còn tồn dư, cụ thể là tô-xơ-phen (toxaphene), DDD và DDE. Cá và cả sinh vật phù du trong hồ cũng nhiễm thuốc.
Câu 2 (Theo dõi): Hóa chất được chọn để diệt muỗi mắt ở Hồ Cli-a (trang 94)
Hoá chất nào được chọn để diệt loài muỗi mắt ở Hồ Cli-a?
Trả lời:
Người ta chọn DDD, một loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm hi-đờ-rô các-bon clo hóa, họ hàng gần với DDT, vì cho rằng nó ít gây hại cho cá hơn. Thuốc được pha loãng (một phần thuốc trong 70 triệu phần nước năm 1949, rồi một phần trong 50 triệu phần nước ở lần sau) và đổ vào hồ.
Câu 3 (Theo dõi): Vì sao nồng độ DDD tăng kinh hoàng trong cơ thể chim lặn? (trang 95)
Trả lời:
Vì chất độc được tích tụ và cô đặc dần qua chuỗi thức ăn. Sinh vật phù du hút DDD từ nước; phù du làm mồi cho cá; cá lớn ăn cá nhỏ; chim lặn lại ăn cá. Mỗi mắt xích giữ lại phần lớn chất độc từ con mồi nên nồng độ tăng vọt: từ mức tối đa 0,02 phần triệu trong nước lên khoảng 5 phần triệu ở phù du, 40 – 300 phần triệu ở cá ăn thực vật, rồi tới 1600 phần triệu trong mô mỡ chim lặn. Đây là hiện tượng mà ngày nay gọi là khuếch đại sinh học.
Câu 4 (Theo dõi): Thuốc DDD tồn tại trong tự nhiên bằng những cách nào? (trang 95)
Trả lời:
- Không lưu lại trong nước hồ (không tìm thấy vết tích trong nước ngay sau khi phun) mà đi vào cơ thể các sinh vật sống trong hồ.
- Truyền qua các thế hệ: gần hai năm sau khi ngừng phun, các lớp phù du mới sinh ra vẫn mang chất độc (5,3 phần triệu).
- Truyền theo chuỗi thức ăn: cá, chim, ếch một năm sau vẫn chứa DDD, nồng độ cao hơn nhiều lần lượng ban đầu; cá nở chín tháng sau đợt phun cuối vẫn nhiễm độc.
Nói gọn, DDD tồn tại bằng cách nương vào chính các sinh vật trong hồ.
Câu 5 (Suy luận): Ảnh hưởng của thuốc diệt sinh vật gây hại, hóa chất trong đất, nước đến sức khỏe con người (trang 96)
Theo bạn, thuốc diệt sinh vật gây hại và các loại hoá chất có trong đất, nước ảnh hưởng như thế nào đến sức khoẻ của con người?
Trả lời:
Con người đứng ở cuối chuỗi thức ăn nên có thể nhận lượng hóa chất đã bị cô đặc nhiều lần qua cá, thịt, rau và nước uống. Theo văn bản, DDD có thể ức chế mạnh chức năng vỏ thận; nước nhiễm thuốc trừ sâu, a-xê-nít làm tăng nguy cơ ung thư. Ngoài ra, theo hiểu biết chung, nhiễm độc hóa chất lâu dài còn có thể gây rối loạn nội tiết, tổn thương gan, thần kinh, ảnh hưởng tới thai nhi. Nguy hiểm nhất là tác hại diễn ra âm thầm, tích lũy dần nên khó phát hiện sớm.
Soạn bài Sự ô nhiễm nguồn nước – Câu hỏi sau khi đọc (trang 96 – 97)
Tám câu hỏi sau khi đọc yêu cầu em nắm đề tài, bố cục, phân tích thông tin, dữ liệu và thái độ của tác giả.
Câu 1: Đề tài, bố cục và thông tin chính từng phần (trang 96)
Xác định đề tài, bố cục và thông tin chính của từng phần.
Trả lời:
- Đề tài: ô nhiễm nguồn nước mặt do thuốc trừ sâu, hóa chất và hậu quả của nó.
- Bố cục: ba phần ứng với ba đề mục in đậm (kèm đoạn mở và đoạn kết ngắn).
| Phần | Thông tin chính |
|---|---|
| Bằng chứng về sự ô nhiễm nguồn nước | Những khu bảo tồn chim di trú ở Ca-li-phoóc-ni-a và Ô-rê-gân dùng chung nguồn nước tháo ra từ đồng ruộng; mùa hè 1960 hàng trăm con chim ăn cá chết, cơ thể chúng, cá và phù du đều nhiễm thuốc trừ sâu. |
| Hóa chất len lỏi vào vòng tuần hoàn tự nhiên | Hồ Cli-a: dùng DDD diệt muỗi mắt (1949, 1954); chim lặn chết, chất độc cô đặc theo chuỗi thức ăn, tồn tại qua nhiều thế hệ sinh vật; đàn chim làm tổ từ hơn 1000 cặp giảm còn khoảng 30 cặp năm 1960. |
| Ảnh hưởng của hóa chất có trong nước đến con người | DDD ức chế chức năng vỏ thận; nước uống nhiễm hóa chất làm tăng nguy cơ ung thư (cảnh báo của tiến sĩ Hiếu-pơ, nghiên cứu ở Hà Lan, các vụ nhiễm a-xê-nít). |
Câu 2: Quan hệ giữa nhan đề và nội dung; đề xuất nhan đề khác (trang 96)
Nhận xét mối quan hệ giữa nhan đề và nội dung của văn bản. Đề xuất một nhan đề khác cho văn bản và cho biết cơ sở lựa chọn.
Trả lời:
- Quan hệ: nhan đề nêu hai ý: thực trạng ô nhiễm nước mặt và hậu quả. Nội dung triển khai đúng hai ý ấy: phần 1 chứng minh thực trạng, phần 2 và 3 chỉ ra hậu quả đối với sinh vật và con người. Nhan đề vì thế khái quát, định hướng cho toàn bộ nội dung.
- Nhan đề khác (gợi ý): Bài học từ Hồ Cli-a. Cơ sở: câu chuyện Hồ Cli-a chiếm dung lượng lớn nhất, là ví dụ điển hình mà tác giả dùng để rút ra bài học về việc lạm dụng hóa chất; nhan đề ngắn, gợi tò mò. Em cũng có thể chọn Hành trình của chất độc trong chuỗi thức ăn để nhấn vào cơ chế lan truyền.
Câu 3: Kiểu bố cục và tác dụng tạo mạch lạc (trang 96)
Văn bản trình bày thông tin theo kiểu bố cục nào? Kiểu bố cục ấy có tác dụng gì trong việc tạo nên sự mạch lạc của văn bản?
Trả lời:
- Kiểu bố cục: theo trật tự lô gích, cụ thể là quan hệ nguyên nhân – kết quả: từ bằng chứng thực trạng → cơ chế hóa chất đi vào tự nhiên → hậu quả cho con người. Trong phần 2, câu chuyện Hồ Cli-a lại được kể theo trình tự thời gian (1949 → 1954 → mùa đông sau đó → 1960).
- Tác dụng: các phần nối tiếp nhau chặt chẽ, phần trước làm tiền đề cho phần sau, người đọc dễ theo dõi và tự nhận ra mối liên hệ giữa hành động của con người với hậu quả nó gây ra; nhờ đó văn bản mạch lạc và có sức thuyết phục.
Câu 4: Thông tin cơ bản, thông tin chi tiết và sơ đồ (trang 96)
Xác định (những) thông tin cơ bản và chi tiết của phần văn bản từ Khi đất và mặt nước bị nhiễm thuốc diệt sinh vật gây hại… đến …hoà vào vùng biển ngầm rộng lớn trong lòng đất. Vẽ sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa (những) thông tin cơ bản và thông tin chi tiết.
Trả lời:
Thông tin cơ bản: nếu đất và nước bị nhiễm thuốc diệt sinh vật gây hại cùng các hóa chất khác, nguồn nước công cộng có nguy cơ chứa cả chất độc lẫn chất gây ung thư.
Sơ đồ (em có thể vẽ dạng hình cây):
- Thông tin cơ bản: nước công cộng có nguy cơ chứa chất gây ung thư
- Chi tiết 1 – Ý kiến chuyên gia: lời cảnh báo của tiến sĩ W. C. Hiếu-pơ thuộc Viện Ung thư Quốc gia: “nguy cơ mắc bệnh ung thư do việc sử dụng nước uống bị nhiễm hoá chất sẽ tăng đáng kể trong tương lai gần”.
- Chi tiết 2 – Nghiên cứu ở Hà Lan (đầu thập niên 1950): thành phố dùng nước sông có tỉ lệ tử vong do ung thư cao hơn nơi dùng nước giếng ít ô nhiễm.
- Chi tiết 3 – A-xê-nít: chất gây ung thư có mặt ở hai trường hợp (từ phế liệu mỏ; từ đá giàu a-xê-nít tự nhiên), bị các loại thuốc trừ sâu có a-xê-nít làm tăng thêm → đất nhiễm độc → mưa cuốn vào sông, hồ, nước ngầm.
Các chi tiết đều có chức năng làm rõ, chứng minh cho thông tin cơ bản.
Câu 5: Thái độ, quan điểm của tác giả và ý kiến của em (trang 97)
Tác giả thể hiện thái độ và quan điểm như thế nào về sự tác động của hoá chất có trong nước đến con người? Bạn đồng tình hay không đồng tình với quan điểm này? Vì sao?
Trả lời:
- Thái độ: lo ngại sâu sắc, có phần bức xúc trước sự chủ quan của con người. Tác giả đặt câu hỏi liệu việc dùng những chất tác động mạnh tới cơ thể sống để diệt côn trùng là “khôn ngoan hay khờ dại”.
- Quan điểm: hóa chất đưa vào nước không biến mất mà đi vào chuỗi thức ăn và cuối cùng đe dọa con người; giải quyết một phiền toái nhỏ bằng hóa chất có thể gây ra hậu quả lớn hơn, khó lường hơn: “Hồ Cli-a là ví dụ điển hình cho vô vàn trường hợp mà ở đó giải pháp cho một vấn đề nhỏ có thể sẽ tạo ra một vấn đề khác nghiêm trọng và khó nhận thấy hơn.”
- Ý kiến của em: em đồng tình. Văn bản đưa ra số liệu cụ thể chứng minh chất độc khuếch đại hàng chục nghìn lần qua chuỗi thức ăn. Thực tế ngày nay, nhiều nước đã cấm DDT, và các vụ ngộ độc, ô nhiễm sông ngòi vẫn cho thấy cái giá của việc dùng hóa chất thiếu kiểm soát. Tuy nhiên, em nghĩ không thể bỏ hẳn mọi hóa chất trong nông nghiệp; điều cần là dùng đúng liều, đúng loại, ưu tiên biện pháp sinh học và đánh giá kĩ tác động trước khi sử dụng.
Câu 6: Loại dữ liệu trong đoạn văn về nghiên cứu ở Hà Lan (trang 97)
Dữ liệu được sử dụng trong đoạn văn từ Thật vậy, một nghiên cứu được thực hiện… đến …hai sự việc từng xảy ra thuộc loại nào?
Trả lời:
Đây là dữ liệu thứ cấp. Tác giả không trực tiếp tiến hành nghiên cứu ở Hà Lan hay điều tra các vụ nhiễm a-xê-nít, mà tổng hợp, thuật lại kết quả từ công trình của người khác để làm bằng chứng cho nhận định của mình. Dữ liệu thứ cấp giúp mở rộng phạm vi chứng minh ra ngoài nước Mỹ, cho thấy vấn đề mang tính toàn cầu.
Câu 7: Tính mới mẻ, cập nhật và độ tin cậy của dữ liệu (trang 97)
Dữ liệu và thông tin được cung cấp trong văn bản có đảm bảo yêu cầu về tính mới mẻ, cập nhật và có độ tin cậy không? Vì sao?
Trả lời:
- Tính mới mẻ, cập nhật: vào thời điểm sách ra đời (1962), thông tin rất mới: các sự việc xảy ra chỉ vài năm trước (1954, 1960), và lần đầu tiên tác hại tích tụ của thuốc trừ sâu được trình bày cho đông đảo công chúng. Với người đọc hôm nay, số liệu đã cũ, một số hóa chất như DDT đã bị cấm ở nhiều nước; nhưng cơ chế khuếch đại sinh học và bài học về lạm dụng hóa chất vẫn còn nguyên giá trị thời sự.
- Độ tin cậy: cao, vì thông tin có địa danh, thời gian, số liệu đo đạc cụ thể (0,02; 5; 1600; 2500 phần triệu…), dẫn tên chuyên gia và cơ quan khoa học; tác giả là nhà sinh vật học; cuốn sách đã được kiểm chứng và có ảnh hưởng lớn tới chính sách môi trường.
Câu 8: Dụng ý trình bày bằng chứng trước khi nói về hậu quả (trang 97)
Theo bạn, tác giả có dụng ý gì khi trình bày bằng chứng về sự ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt Trái Đất trước khi cung cấp thông tin về hậu quả của nó?
Trả lời:
Tác giả muốn người đọc trước hết tin rằng ô nhiễm là có thật và đang diễn ra ngay trước mắt, bằng những sự việc cụ thể như hàng trăm xác chim, dư lượng thuốc trong cá và phù du. Khi đã chấp nhận thực trạng, người đọc sẽ dễ tiếp nhận phần nói về hậu quả, thấy hậu quả ấy là hệ quả tất yếu chứ không phải lời dọa suông. Trình tự từ bằng chứng đến hậu quả còn tạo sự tăng tiến: từ chim, cá đến chính con người, khiến người đọc giật mình nhận ra mình cũng nằm trong vòng tuần hoàn ấy, nhờ đó văn bản có sức thuyết phục và lay động mạnh hơn.
Soạn bài Sự ô nhiễm nguồn nước – Bài tập sáng tạo (trang 97)
Phần này yêu cầu em làm một sản phẩm trực quan để lan tỏa thông điệp của văn bản.
Câu 1: Thiết kế sản phẩm kêu gọi bảo vệ môi trường nước (trang 97)
Hãy thiết kế một sản phẩm sáng tạo (tranh, ảnh, poster…) để kêu gọi mọi người bảo vệ môi trường nước.
Trả lời:
Gợi ý thiết kế poster:
- Khẩu hiệu: Giọt nước hôm nay – sự sống ngày mai.
- Hình ảnh trung tâm: một giọt nước lớn chia đôi: nửa trên trong xanh có cá bơi, cây cối; nửa dưới đen đục với chai nhựa, thùng hóa chất, xác cá – tạo sự đối lập.
- Chuỗi thức ăn nhỏ ở góc: phù du → cá → chim → con người, có mũi tên đỏ đậm dần để gợi chất độc tích tụ (lấy ý từ câu chuyện Hồ Cli-a).
- Ba hành động cụ thể: không xả rác xuống sông hồ; dùng ít túi nilon, chai nhựa dùng một lần; tiết kiệm nước và dùng sản phẩm tẩy rửa thân thiện môi trường.
- Màu sắc: xanh lam chủ đạo, điểm xám đen ở phần bị ô nhiễm; chữ lớn, dễ đọc từ xa.
Kết luận
Đoạn trích Sự ô nhiễm nguồn nước trên bề mặt Trái Đất và hậu quả cho thấy sức mạnh của một văn bản thông tin khoa học: bằng chứng cụ thể, số liệu chính xác, câu chuyện điển hình và lời cảnh báo thấm thía rằng trong tự nhiên không có gì tồn tại tách rời. Khi soạn bài, em cần nắm ba phần của văn bản, cơ chế chất độc tích tụ qua chuỗi thức ăn, cách phân biệt thông tin cơ bản – chi tiết, dữ liệu sơ cấp – thứ cấp và thái độ của Rây-cheo Ca-sơn. Văn bản trích theo bản dịch của nhóm dịch Khánh An.
Xem thêm: