Soạn bài Khuôn đúc đồng Cổ Loa: “Nỏ thần” không chỉ là truyền thuyết hướng dẫn em trả lời đầy đủ các câu hỏi trước, trong và sau khi đọc ở trang 87 – 92, Bài 9 (Khám phá tự nhiên và xã hội – Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo tập hai. Bài báo của tác giả Hà Trang giới thiệu bộ khuôn đá dùng đúc mũi tên tìm thấy ở Cổ Loa – bằng chứng khảo cổ cho thấy chiếc nỏ bắn nhiều mũi tên trong câu chuyện về An Dương Vương có cơ sở thực tế.
Tìm hiểu chung về văn bản Khuôn đúc đồng Cổ Loa
Đây là một văn bản thông tin ngắn, dạng bài báo, nên em cần chú ý nguồn đăng, thông tin chính, các loại dữ liệu và phương tiện phi ngôn ngữ đi kèm.

Tác giả, xuất xứ
- Tác giả: Hà Trang, người viết bài cho báo điện tử Dân trí. SGK ghi văn bản “theo Hà Trang”, nghĩa là có lược bớt, điều chỉnh so với bài gốc.
- Xuất xứ: bài gốc đăng trên báo Dân trí ngày 16/12/2021, chuyên mục Văn hóa, với tiêu đề bắt đầu bằng chữ “Tận mắt”. SGK ghi nguồn đường dẫn dantri.com.vn, ngày truy cập 08/03/2023.
- Thể loại: thuộc nhóm văn bản thông tin (bài báo giới thiệu hiện vật, phát hiện khảo cổ); phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, có xen miêu tả và lời dẫn ý kiến chuyên gia.
Bố cục và thông tin chính
- Sa pô: nêu thông tin chủ đạo – dấu tích lò đúc và khuôn đúc mũi tên ở Cổ Loa chứng minh loại nỏ bắn cùng lúc nhiều mũi tên là có thật.
- Phần 1: nơi lưu giữ (nhà trưng bày khu di tích Cổ Loa, Đông Anh, Hà Nội), chất liệu (đá sa thạch), niên đại (văn hóa Đông Sơn, khoảng thế kỉ III – II TCN, giai đoạn An Dương Vương).
- Phần 2: hoàn cảnh phát hiện (khai quật trước khi trùng tu đền Thượng, 2004 – 2007) và mô tả chi tiết lò đúc, mười một mang khuôn, hai mang khắc chữ Hán.
- Phần 3: ông Hoàng Công Huy đánh giá ý nghĩa của các hiện vật; quyết định xếp hạng Bảo vật quốc gia (31/12/2020).
- Kết: từ hàng nghìn mũi tên đồng tìm thấy, người viết khẳng định chiếc nỏ bắn nhiều mũi tên là có thật.
Ý nghĩa nhan đề, nội dung và nghệ thuật
- Nhan đề: gồm hai vế ngăn bởi dấu hai chấm: vế trước nêu đối tượng (khuôn đúc đồng Cổ Loa), vế sau nêu kết luận. Chữ Nỏ thần đặt trong ngoặc kép vì đó là cách gọi trong truyền thuyết; cụm không chỉ là truyền thuyết gợi tò mò và cho biết bài viết sẽ đưa ra bằng chứng lịch sử.
- Nội dung: giới thiệu hiện trạng, đặc điểm, ý nghĩa của các khuôn đúc mũi tên, mũi lao ở Cổ Loa; qua đó khẳng định trình độ luyện kim cao của người Việt cổ và cơ sở thực tế của hình ảnh nỏ thần.
- Nghệ thuật: thông tin cụ thể, chính xác (niên đại, số lượng, năm khai quật, số hiệu quyết định); dẫn lời chuyên gia và người quản lí di tích; dùng hình ảnh minh họa; ngôn ngữ khách quan nhưng thấp thoáng niềm tự hào.
Soạn bài Khuôn đúc đồng Cổ Loa – Trước khi đọc (trang 87)
Câu hỏi khởi động gợi em nhớ lại truyền thuyết đã học ở lớp 10 để có điểm tựa đối chiếu khi đọc văn bản.
Câu 1: Truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy, hình ảnh nỏ thần (trang 87)
Bạn đã biết gì về truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy? Hình ảnh nỏ thần trong truyền thuyết ấy gợi cho bạn suy nghĩ gì?
Trả lời:
Những điều em biết: truyền thuyết kể rằng An Dương Vương xây thành ở đất Việt Thường nhưng thành cứ đắp xong lại đổ, nhờ thần Kim Quy (Rùa Vàng) giúp mới xây xong thành ốc ở Cổ Loa. Thần còn tặng vua một chiếc vuốt để làm lẫy nỏ; nỏ bắn một phát giết được hàng vạn quân giặc, nên quân Triệu Đà nhiều lần thua chạy. Triệu Đà bèn xin cưới Mị Châu cho Trọng Thủy, con trai hắn. Trọng Thủy ở rể, lừa vợ cho xem nỏ rồi đánh tráo lẫy thần mang về nước. Triệu Đà lại kéo quân sang, nỏ mất linh nghiệm, An Dương Vương thua, đưa con gái chạy về phía biển. Mị Châu rắc lông ngỗng dọc đường làm dấu cho chồng. Rùa Vàng hiện ra, chỉ Mị Châu chính là giặc, vua chém con rồi theo thần xuống biển. Máu Mị Châu hóa ngọc trai, Trọng Thủy hối hận lao đầu xuống giếng.
Suy nghĩ về hình ảnh nỏ thần: nỏ thần là sự thần kì hóa sức mạnh quân sự của nước Âu Lạc, thể hiện niềm tự hào về tài chế tạo vũ khí và ý chí giữ nước của cha ông. Đồng thời, việc mất nỏ dẫn đến mất nước là bài học về tinh thần cảnh giác: vũ khí dù mạnh đến đâu cũng vô dụng nếu người cầm quyền mất cảnh giác, để lộ bí mật quốc gia.
Soạn bài Khuôn đúc đồng Cổ Loa – Câu hỏi trong khi đọc (trang 87 – 90)
Bốn câu hỏi bên lề rèn kĩ năng dự đoán, theo dõi và suy luận khi đọc văn bản thông tin.
Câu 1 (Dự đoán): Dựa trên nhan đề, đoán nội dung văn bản (trang 87)
Dựa trên nhan đề, bạn dự đoán văn bản sẽ trình bày nội dung gì?
Trả lời:
Từ nhan đề, em đoán bài viết sẽ giới thiệu những khuôn đúc bằng đồng (hoặc dùng để đúc đồ đồng) được tìm thấy ở Cổ Loa, nơi gắn với An Dương Vương. Qua các hiện vật ấy, tác giả sẽ chứng minh chiếc nỏ thần không hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng mà có thể đã tồn tại thật trong lịch sử, có lẽ là một kiểu nỏ có thể bắn liền nhiều phát. Khi đọc xong, em thấy dự đoán cơ bản đúng, chỉ khác ở chỗ khuôn làm bằng đá sa thạch, là dụng cụ đúc ra mũi tên, mũi lao bằng đồng.
Câu 2 (Theo dõi): Hiểu từ “độc bản” trong đoạn văn (trang 89)
Bạn hiểu từ “độc bản” trong đoạn văn này như thế nào?
Trả lời:
Độc bản nghĩa là chỉ tồn tại một bản, không có bản sao nào giống hệt. Trong đoạn văn, từ này cho biết những mang khuôn tìm thấy ở Cổ Loa là hiện vật gốc, chưa từng phát hiện hiện vật tương tự ở nơi nào khác trên đất nước ta. Vì thế chúng vô cùng quý giá, không thể thay thế.
Câu 3 (Theo dõi): Dữ liệu và ý kiến, quan điểm của người viết (trang 89)
Xác định dữ liệu và ý kiến/quan điểm của người viết trong đoạn văn: Trong số mười mang khuôn… như khuôn đúc, trống đồng.
Trả lời:
- Dữ liệu (thông tin khách quan, có thể kiểm chứng bằng hiện vật): trong mười mang khuôn đúc mũi tên ba cạnh có hai mang mà mặt ngoài được mài nhẵn, khắc chìm chữ Hán.
- Ý kiến, quan điểm (nhận định rút ra từ dữ liệu): câu thứ hai mở đầu bằng cụm Điều này cho thấy, cho rằng nhà nước Âu Lạc thời An Dương Vương đã dùng chữ Hán để khắc lên các đồ vật quan trọng (khuôn đúc, trống đồng).
Nhận ra hai lớp này giúp người đọc phân biệt đâu là sự thật, đâu là cách hiểu của người viết hoặc chuyên gia, từ đó tự đánh giá mức độ thuyết phục.
Câu 4 (Suy luận): Mục đích trình bày thông tin này (trang 90)
Người viết trình bày thông tin này với mục đích gì?
Trả lời:
Ở đoạn này, người viết mô tả kĩ hai mang khuôn có khắc minh văn: mặt ngoài mài nhẵn, chữ khắc ở rìa, một chữ đọc được là “Thần” (tạm dịch là “Quan”), một chữ khác là “Nhân” (tạm dịch là “Người”). Mục đích là:
- Đưa ra bằng chứng cụ thể, chi tiết để người đọc tin vào tính xác thực và giá trị đặc biệt của bộ sưu tập.
- Làm rõ nhận định ở đoạn trước về việc người Âu Lạc dùng chữ viết trên hiện vật quan trọng, cho thấy đây là sản phẩm của một nhà nước có tổ chức.
- Gợi sự tò mò, hứng thú khám phá vì vẫn còn chữ chưa giải mã được.
Soạn bài Khuôn đúc đồng Cổ Loa – Câu hỏi sau khi đọc (trang 91 – 92)
Bảy câu hỏi sau khi đọc tập trung vào thông tin chính, bố cục, loại dữ liệu, độ tin cậy, phương tiện phi ngôn ngữ và thái độ của người viết.
Câu 1: Thông tin chính và kiểu bố cục (trang 91)
Xác định các thông tin chính của văn bản. Văn bản đã sử dụng (những) kiểu bố cục nào để trình bày thông tin?
Trả lời:
Thông tin chính:
- Bộ khuôn đá sa thạch ở Cổ Loa, dùng đúc mũi tên và mũi lao, có niên đại khoảng thế kỉ III – II TCN, thuộc thời An Dương Vương.
- Bộ sưu tập được phát hiện cùng lò đúc đồng trong đợt khai quật 2004 – 2007 ở đền Thượng; gồm mười một mang khuôn, hai mang có khắc chữ Hán.
- Bộ sưu tập rất quý, phản ánh thành tựu luyện kim của người Việt cổ và đã trở thành Bảo vật quốc gia.
- Những phát hiện này chứng minh loại nỏ bắn cùng lúc nhiều mũi tên là có thật.
Kiểu bố cục: văn bản chủ yếu theo trật tự lô gích: nêu kết luận ở sa pô → đưa bằng chứng (nơi lưu giữ, hoàn cảnh phát hiện, mô tả hiện vật) → dẫn ý kiến về giá trị → khẳng định lại ở cuối. Trong đó có kết hợp cách phân loại (mang khuôn mũi tên – mũi lao; mang có chữ – không có chữ) và đi từ khái quát đến cụ thể khi mô tả mặt ngoài, mặt trong của khuôn.
Câu 2: Thông tin được trình bày chi tiết và nhận xét cách chọn lọc (trang 91)
Trong các thông tin chính của văn bản, người viết chọn (những) thông tin nào để trình bày chi tiết? Từ đó, nhận xét về cách chọn lọc thông tin của văn bản.
Trả lời:
- Thông tin được trình bày chi tiết: phần mô tả hiện vật: cấu trúc lò đúc (đường ống dẫn gió, than tro, nồi nấu, xỉ đồng), số lượng và loại mang khuôn, cách chế tác mặt ngoài – mặt trong, các chữ Hán khắc trên khuôn.
- Nhận xét: cách chọn lọc hợp lí, đúng mục đích. Muốn thuyết phục người đọc rằng nỏ thần có cơ sở thật, bằng chứng mạnh nhất là chính hiện vật; vì thế người viết dành nhiều chữ nhất cho phần mô tả hiện vật, còn các thông tin khác (nơi lưu giữ, quyết định công nhận) chỉ nêu ngắn gọn. Thông tin được chọn vừa đủ, không lan man sang truyền thuyết hay chuyện ngoài lề.
Câu 3: Loại dữ liệu trong đoạn về ông Hoàng Công Huy và vai trò (trang 91)
Xác định loại dữ liệu được sử dụng trong phần văn bản: Ông Hoàng Công Huy – lãnh đạo Ban Quản lí Khu di tích Cổ Loa … Bảo vật quốc gia theo Quyết định số 2283/QĐ-TTg. Loại dữ liệu ấy giữ vai trò gì trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản?
Trả lời:
- Loại dữ liệu: chủ yếu là dữ liệu sơ cấp – lời phát biểu trực tiếp của ông Hoàng Công Huy, người đang quản lí di tích, do người viết thu thập qua phỏng vấn (có phần được đặt trong ngoặc kép). Kèm theo là thông tin trích từ văn bản pháp lí chính thức: ngày và số hiệu quyết định công nhận Bảo vật quốc gia.
- Vai trò: đây là tiếng nói của người có thẩm quyền và hiểu biết chuyên môn, cùng với quyết định của Chính phủ, nên làm tăng mạnh độ tin cậy cho thông tin chính về ý nghĩa của các hiện vật. Đoạn văn cũng đặt bộ khuôn trong mối liên hệ với hai phát hiện trước đó ở Cổ Loa (kho mũi tên đồng Cầu Vực; trống đồng, lưỡi cày đồng Mả Tre), giúp người đọc thấy giá trị của nó một cách hệ thống.
Câu 4: Đánh giá tính mới mẻ, cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu (trang 91)
Hãy đánh giá về tính mới mẻ, cập nhật, độ tin cậy của dữ liệu, thông tin được trình bày trong văn bản.
Trả lời:
- Mới mẻ, cập nhật: bộ khuôn là phát hiện mới nhất trong ba hiện tượng khảo cổ lớn ở Cổ Loa (sau Cầu Vực năm 1959 và Mả Tre năm 1982); việc công nhận Bảo vật quốc gia diễn ra cuối năm 2020, bài báo đăng tháng 12/2021 – tức thông tin rất thời sự vào lúc đăng. Với nhiều học sinh, đây cũng là thông tin mới, ít được biết đến.
- Độ tin cậy: cao, vì số liệu cụ thể (niên đại, số mang khuôn, năm khai quật), nguồn rõ ràng (Viện Khảo cổ học, Ban Quản lí di tích, quyết định của Thủ tướng), hiện vật đang được trưng bày công khai, bài đăng trên báo chính thống.
- Điểm cần lưu ý: một số ý kiến chỉ ghi chung là “theo các chuyên gia” mà không nêu tên; kết luận về nỏ thần là suy luận hợp lí từ mũi tên và khuôn đúc, chứ chưa có hiện vật chiếc nỏ. Người đọc nên hiểu đây là bằng chứng gián tiếp và có thể tìm thêm các công trình khảo cổ học để đối chiếu.
Câu 5: So sánh hiệu quả khi có và không có hình minh họa (trang 91)
So sánh hiệu quả biểu đạt của văn bản trong hai trường hợp: có sử dụng hình minh họa (Hình 3) và không sử dụng hình ảnh.
Trả lời:
| Có hình minh họa (Hình 3) | Không có hình ảnh |
|---|---|
| Người đọc thấy tận mắt mang khuôn đúc mũi tên ba cạnh và mũi lao cánh én, hiểu ngay “mang khuôn” là gì, hình dung được cách các mảnh ráp khít vào nhau. | Người đọc chỉ dựa vào lời mô tả; các thuật ngữ như mang khuôn, phác vật khuôn, mặt trong – mặt ngoài khá xa lạ, khó hình dung. |
| Hình ảnh là bằng chứng trực quan, tăng độ tin cậy, sức thuyết phục. | Thông tin vẫn đầy đủ nhưng kém sinh động, dễ gây cảm giác khô khan. |
| Bài viết hấp dẫn hơn, thu hút người đọc theo dõi đến cuối. | Người đọc dễ bỏ qua những đoạn mô tả kĩ thuật. |
Như vậy, phương tiện phi ngôn ngữ phối hợp với ngôn ngữ giúp văn bản thông tin truyền đạt hiệu quả hơn hẳn.
Câu 6: Thái độ của người viết đối với văn hóa dân tộc và suy nghĩ của em (trang 92)
Qua văn bản, người viết đã thể hiện thái độ như thế nào đối với văn hóa dân tộc? Thái độ ấy gợi cho bạn (những) suy nghĩ gì?
Trả lời:
- Thái độ: người viết tỏ ra trân trọng và tự hào về di sản văn hóa, trình độ kĩ thuật của người Việt cổ; quý các hiện vật gốc có một không hai; mong muốn làm sáng tỏ cơ sở lịch sử của truyền thuyết. Thái độ ấy thể hiện qua các từ ngữ như “bảo vật”, “giá trị đặc biệt”, “vô cùng quan trọng” và qua việc nhấn mạnh danh hiệu Bảo vật quốc gia.
- Suy nghĩ của em: truyền thuyết không chỉ là chuyện kể cho vui mà có thể ẩn chứa những sự thật lịch sử; khoa học khảo cổ giúp ta hiểu tổ tiên rõ hơn. Em thấy tự hào vì từ hơn hai nghìn năm trước, cha ông đã làm chủ kĩ thuật đúc đồng tinh xảo. Lớp trẻ chúng em nên tìm hiểu, tham quan và giữ gìn các di tích như Cổ Loa, không xâm hại hiện vật, đồng thời lan tỏa những hiểu biết đúng đắn về lịch sử dân tộc.
Câu 7: Viết đoạn văn về hình ảnh nỏ thần trong truyền thuyết và lịch sử (trang 92)
Tìm đọc truyền thuyết An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy. Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) trình bày suy nghĩ của bạn về hình ảnh nỏ thần được thể hiện trong truyền thuyết trên và trong thực tế lịch sử.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Trong truyền thuyết, nỏ thần hiện lên như một báu vật kì diệu: lẫy nỏ làm từ vuốt của thần Kim Quy, mỗi phát bắn diệt hàng vạn quân giặc. Sự thần kì ấy là cách người xưa ngợi ca sức mạnh giữ nước của Âu Lạc, đồng thời gửi gắm bài học đau xót: khi lòng người mất cảnh giác, báu vật cũng thành vô dụng. Đặt bên cạnh những phát hiện khảo cổ ở Cổ Loa, hình ảnh ấy bỗng trở nên gần gũi và có thật hơn. Hàng nghìn mũi tên đồng ba cạnh, những mang khuôn đá được chế tác tinh xảo cho thấy người Việt cổ đã biết sản xuất mũi tên hàng loạt, đủ cho một loại nỏ bắn liên tiếp nhiều phát. Như vậy, nỏ thần là sự thăng hoa của trí tưởng tượng dựa trên một thành tựu kĩ thuật thật. Em càng thêm tự hào về trí tuệ của cha ông và hiểu rằng sức mạnh của đất nước phải gắn với sự sáng suốt của con người.
Kết luận
Khuôn đúc đồng Cổ Loa: “Nỏ thần” không chỉ là truyền thuyết là văn bản thông tin ngắn gọn nhưng chặt chẽ: nêu kết luận ngay ở sa pô, rồi lần lượt đưa bằng chứng hiện vật, ý kiến chuyên gia, quyết định công nhận Bảo vật quốc gia. Khi soạn bài, em cần phân biệt được dữ liệu với ý kiến, nhận ra loại dữ liệu, đánh giá độ tin cậy, hiểu vai trò của hình minh họa và cảm nhận niềm tự hào về văn hóa dân tộc mà người viết gửi gắm.
Xem thêm: