Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ của Vũ Trọng Phụng) trong Bài 7 (Tiểu thuyết hiện đại), sách Ngữ văn 12 Cánh diều tập 2 (trang 35 – 41). Bài soạn gồm phần chuẩn bị, bảy câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi sau khi đọc, có dẫn chứng từ văn bản.
Chuẩn bị đọc Hạnh phúc của một tang gia
Đoạn trích là chương XV của tiểu thuyết Số đỏ, kể đám tang cụ cố tổ trong gia đình cụ cố Hồng. Khi đọc, em chú ý tình huống truyện, giọng điệu người kể và những chi tiết trào phúng.

Câu hỏi chuẩn bị (trang 35 – 36)
Xác định vị trí, bố cục, nội dung đoạn trích; tìm hiểu thông tin về tác giả Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết Số đỏ.
Trả lời:
Vị trí: Đoạn trích nằm ở chương XV của Số đỏ. Tiểu thuyết có 20 chương, ra mắt bạn đọc trên Hà Nội báo từ năm 1936 và được xuất bản thành sách năm 1938. Ở các chương trước, cụ cố tổ ngoài tám mươi tuổi lâm bệnh; con cháu mong cụ chết để chúc thư chia gia tài được thực hiện, và Xuân Tóc Đỏ đã tình cờ góp phần gây ra cái chết ấy.
Bố cục: 2 phần.
- Phần 1 (từ đầu đến “việc Xuân Tóc Đỏ đã gây ra cho Tuyết vậy”): niềm vui của các thành viên trong gia đình khi cụ cố tổ chết và cảnh “tang gia bối rối”.
- Phần 2 (còn lại): đám ma đi qua các phố và những gì diễn ra lúc hạ huyệt.
Nội dung: Đoạn trích phơi bày bộ mặt giả dối, bất hiếu của một gia đình thượng lưu thành thị, coi cái chết của người thân là dịp để thỏa mãn những ham muốn riêng; qua đó châm biếm lối sống “văn minh” rởm của xã hội thành thị trước Cách mạng.
Tác giả: Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), quê gốc Mỹ Hào, Hưng Yên, sinh và lớn lên ở Hà Nội, nhà nghèo, mồ côi cha từ nhỏ; cả đời gắn với nghề cầm bút. Ông được mệnh danh là ông vua phóng sự đất Bắc, nổi tiếng với các phóng sự Cạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây, các tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê. Ngòi bút của ông sắc sảo, giàu chất trào phúng. Xem thêm những tác phẩm tiêu biểu của Vũ Trọng Phụng.
Tiểu thuyết Số đỏ: Truyện kể cuộc đời của Xuân, một kẻ mồ côi, vô học, làm đủ nghề vặt ở Hà Nội. Nhờ những sự tình cờ may mắn, Xuân được bà Phó Đoan đưa về làm việc ở tiệm may Âu hóa, rồi được tung hô là đốc tờ, nhà cải cách y phục, cuối cùng thành vĩ nhân cứu quốc. Qua vận đỏ của Xuân, tác giả châm biếm các phong trào Âu hóa, vui vẻ trẻ trung lố lăng của xã hội thượng lưu thời bấy giờ.
Câu hỏi trong khi đọc
Câu 1: Giọng điệu của người kể chuyện (trang 37)
Trả lời:
Người kể chuyện giữ giọng điệu khách quan, tỉnh táo như đang thuật lại một sự việc bình thường, nhưng ẩn bên trong là sự mỉa mai, giễu cợt. Câu mở đầu “Ba hôm sau, ông cụ già chết thật” gọn lỏn, lạnh lùng; những nhận xét như “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm” mang sắc thái châm biếm sâu cay.
Câu 2: Ý nghĩ của mọi người trong tang gia (trang 37)
Trả lời:
- Cụ cố Hồng: mơ màng đến lúc mặc đồ xô gai, chống gậy, ho khạc, để thiên hạ chỉ trỏ khen mình già, mong một đám ma thật to.
- Ông Văn Minh: mừng vì cái chúc thư từ nay hết là “lí thuyết viển vông”, chỉ phân vân không biết đối xử với Xuân ra sao.
- Ông Phán mọc sừng: sung sướng vì được hứa chia thêm vài nghìn đồng, tính chuyện làm ăn với Xuân.
- Các con cháu khác: cậu tú Tân nóng lòng được dùng máy ảnh, bà Văn Minh muốn mặc đồ tang tân thời, ông Typn muốn ra mắt những mẫu quần áo mới.
Không ai nghĩ đến người chết; tất cả chỉ lo cho danh, lợi và ý thích riêng.
Câu 3: Mọi người trong tang gia đã “bối rối” ra sao (trang 38)
Trả lời:
Họ “bối rối” không phải vì đau buồn mà vì sốt ruột: người chết đã khâm liệm gần một ngày mà chưa được phát phục. Phái trẻ la ó phái già chậm chạp; cậu tú Tân bực vì chưa được chụp ảnh; bà Văn Minh nóng ruột vì chưa được mặc đồ tang mốt mới; ông Typn bực vì các mẫu quần áo chưa được ra mắt. Chữ “bối rối” vì thế mang nghĩa mỉa mai.
Câu 4: Ý nghĩ, tâm trạng, hành động của Tuyết (trang 38)
Trả lời:
Tuyết là người duy nhất không vui, nhưng không phải vì thương ông, mà vì Xuân không đến phúng viếng, sợ Xuân khinh mình. Cô mặc bộ áo “Ngây thơ” hở hang để chứng tỏ mình còn trinh tiết, đi mời trầu thuốc nhanh nhẹn với “một vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt”. Khi Xuân xuất hiện, Tuyết liếc mắt đưa tình. Tuyết hiện lên là cô gái lẳng lơ, giả dối, lố bịch.
Câu 5: Cử chỉ, hành động, lời nói của các nhân vật khi đi đưa tang (trang 40)
Trả lời:
Bề ngoài ai cũng làm ra vẻ nghiêm trang, buồn rầu, nhưng thực ra họ thì thầm chuyện vợ con, nhà cửa, tủ mới, áo mới; nam nữ “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau, hẹn hò nhau”. Những câu thì thào được dẫn ra toàn là chuyện khen chê nhan sắc, mai mối, đàm tiếu. Đám tang biến thành một cuộc hội hè, khoe mẽ.
Câu 6: Tác dụng của câu “Đám cứ đi…” được lặp lại (trang 41)
Trả lời:
Câu văn ngắn lặp lại như một điệp khúc, gợi nhịp chuyển động chậm rãi, kéo dài của đám ma, đồng thời nhấn mạnh sự trơ trẽn kéo dài của những người đi đưa: đám tang cứ diễn ra, trò hề cứ tiếp tục. Giọng văn dửng dưng ấy làm tăng sức châm biếm.
Câu 7: Bối cảnh và hành vi của ông Phán (trang 41)
Trả lời:
Bối cảnh là lúc hạ huyệt, trước đông đủ khách đi đưa. Ông Phán mặc áo thụng trắng, khóc to “Hứt!… Hứt!… Hứt!…” đến mức tưởng ngất, ai cũng chú ý. Nhưng chính lúc ấy, ông lén dúi vào tay Xuân tờ giấy bạc năm đồng gấp tư để trả công Xuân. Hành vi này phơi bày sự giả dối đến cùng cực: tiếng khóc là màn diễn, đồng tiền mới là điều thật.
Trả lời câu hỏi sau khi đọc
Câu 1: Mối liên hệ giữa nhan đề và tình huống truyện (trang 41)
Trả lời:
Nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” chứa đựng một nghịch lí: tang gia là nhà có người chết, lẽ ra phải đau buồn, nhưng ở đây lại tràn đầy “hạnh phúc”. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh nghịch lí ấy: cái chết của cụ cố tổ đem lại niềm vui cho tất cả con cháu, vì ai cũng có được thứ mình mong muốn (gia tài, danh tiếng, dịp khoe mốt, khoe ảnh). Nhan đề vì thế vừa khái quát tình huống, vừa định hướng giọng điệu trào phúng cho toàn đoạn trích.
Câu 2: Tâm trạng, hành động của người trong tang gia và điều tác giả phản ánh (trang 41)
Trả lời:
Tâm trạng, hành động: Ai cũng vui: cụ cố Hồng sung sướng vì được khoe đám ma to; Văn Minh mừng vì chúc thư sắp thành hiện thực; ông Phán vui vì được thêm tiền; Tân, bà Văn Minh, Typn hả hê vì có dịp chụp ảnh, khoe mốt, quảng cáo; Tuyết buồn vì vắng Xuân. Họ tổ chức một đám ma linh đình, pha trộn mọi lối Ta, Tàu, Tây, chỉ để phô trương.
Điều tác giả phản ánh: sự băng hoại của tình thân và đạo lí trong giới thượng lưu thành thị thời ấy: con cháu bất hiếu, coi đồng tiền và danh hão hơn tình thân; lễ nghi truyền thống bị biến thành trò khoe khoang; lối sống văn minh, Âu hóa chỉ là cái vỏ rỗng che đậy sự giả dối, vô liêm sỉ.
Câu 3: Quá trình đưa tang và biểu hiện của phong cách hiện thực (trang 41)
Trả lời:
Quá trình đưa tang được miêu tả theo trình tự: sáng 7 giờ cất đám, có hai cảnh sát giữ trật tự; đám ma đi qua phố với kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, kèn Ta, kèn Tây, kèn Tàu, ba trăm câu đối, vài trăm người đi đưa; giữa đường có thêm sáu xe sư chùa Bà Banh và hai vòng hoa lớn chen vào; người đi đưa thì thầm chuyện riêng; đến huyệt, Tân bắt mọi người làm dáng để chụp ảnh, ông Phán khóc to rồi dúi tiền cho Xuân.
Biểu hiện phong cách hiện thực:
- Quan sát tỉ mỉ, ghi lại cụ thể từng chi tiết: số lượng câu đối, người đi đưa, các thứ kèn, các loại huy chương của khách.
- Miêu tả khách quan, để sự thật tự bộc lộ: tác giả không cần bình luận mà người đọc vẫn thấy sự lố bịch.
- Khắc họa nhân vật bằng hành động, lời nói, chi tiết điển hình (cậu tú Tân bắt người ta tạo dáng, ông Phán vừa khóc vừa dúi tiền).
- Phản ánh chân thực một tầng lớp, một lối sống của xã hội thành thị đương thời.
Câu 4: Nét đặc sắc của nghệ thuật trào phúng (trang 41)
Trả lời:
- Nhan đề nghịch lí: ghép “hạnh phúc” với “tang gia” tạo mâu thuẫn trào phúng ngay từ đầu.
- Tình huống mâu thuẫn: người chết – người sống vui; đám ma – ngày hội; vẻ ngoài buồn rầu – bên trong hả hê.
- Từ ngữ: dùng từ trang trọng cho việc lố bịch (“hạnh phúc”, “danh giá”), từ ngữ “văn minh” lai căng (“dernières créations”, “lăng-xê”), cách gọi “ông Phán mọc sừng”.
- So sánh, cường điệu: đám ma to đến mức “có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng”; mấy ông cảnh binh “buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ”; một nghìn tám trăm bảy mươi hai câu gắt của cụ cố Hồng.
- Đặt câu: câu ngắn lạnh lùng (“Ba hôm sau, ông cụ già chết thật”), câu liệt kê dài, điệp ngữ “Đám cứ đi…”.
- Giọng điệu: khách quan, tỉnh bơ mà mỉa mai sâu cay; nhiều câu văn phản ngữ như những người đi đưa “buồn rầu và đau đớn về những điều sơ suất của khổ chủ”.
Câu 5: Thông điệp và ý nghĩa ngày nay (trang 41)
Trả lời:
Thông điệp của đoạn trích là lời cảnh tỉnh trước lối sống giả dối, chạy theo hình thức, coi trọng tiền bạc và danh hão hơn tình người; đồng thời cảnh tỉnh về sự băng hoại đạo đức gia đình khi con người bị đồng tiền chi phối.
Thông điệp ấy vẫn còn nguyên giá trị hôm nay. Không ít đám hiếu, đám hỉ vẫn được tổ chức linh đình để phô trương; có người coi tang lễ là dịp khoe khoang, đăng ảnh lên mạng để được chú ý; có những gia đình tranh chấp tài sản ngay khi cha mẹ vừa mất. Đoạn trích nhắc chúng ta sống chân thành, hiếu thảo khi người thân còn sống và tổ chức tang lễ trang nghiêm, tiết kiệm, đúng với tình cảm thật.
Câu 6: Chi tiết nghệ thuật em thích nhất (trang 41)
Trả lời:
Em thích nhất chi tiết ông Phán khóc “Hứt!… Hứt!… Hứt!…” mà tay vẫn kịp trả tiền cho Xuân. Chỉ bằng hai hành động diễn ra cùng lúc, Vũ Trọng Phụng lật tẩy hoàn toàn bản chất của nhân vật: tiếng khóc to nhất đám là tiếng khóc giả, còn nước mắt chỉ để che cho một vụ trả tiền. Chi tiết vừa gây cười vừa khiến người đọc rùng mình, cho thấy trong gia đình ấy cả nỗi đau cũng là thứ có thể mua bán. Theo em, đây là chi tiết đắt giá nhất của chương truyện.
Kết luận
Soạn bài Hạnh phúc của một tang gia, em cần nắm tình huống trào phúng nghịch lí, chân dung từng thành viên trong “tang gia”, cảnh đám ma linh đình và những thủ pháp gây cười đặc sắc của Vũ Trọng Phụng. Đó là chìa khóa để hiểu giá trị hiện thực và tính phê phán của Số đỏ.
Xem thêm: