Soạn bài Bài thơ của một người yêu nước mình giúp em chuẩn bị bài và trả lời đầy đủ câu hỏi trang 68 – 72, Bài 8 (Thơ hiện đại), sách Ngữ văn 12 Cánh diều tập hai. Bài thơ tự do của Trần Vàng Sao, viết cuối năm 1967, nói về tình yêu đất nước bằng những điều nhỏ bé, gần gũi nhất: một buổi sáng ở quê, người mẹ góa tảo tần, căn nhà dột, câu hò, câu vọng cổ.
Tìm hiểu chung về Bài thơ của một người yêu nước mình
Trước khi trả lời câu hỏi, em nên nắm vài thông tin về tác giả, hoàn cảnh ra đời và đặc điểm của văn bản trong SGK.

Tác giả Trần Vàng Sao
Trần Vàng Sao (1941 – 2018), tên khai sinh Nguyễn Đính, người Thừa Thiên Huế. Ông đỗ tú tài năm 1961, vào học Đại học Huế và sớm dấn thân vào các cuộc xuống đường của sinh viên Huế. Trong những năm 1965 – 1970, ông ở chiến khu, làm việc ở Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế, viết báo với nhiều bút danh. Sau năm 1975, ông sống và làm việc ở Huế tới lúc về hưu. Ông ít in thơ, nhưng bài thơ này đã đưa tên ông vào danh sách 100 bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỉ XX.
Hoàn cảnh ra đời, thể thơ, bố cục
- Hoàn cảnh sáng tác: tháng 12/1967, khi tác giả đang ở chiến khu vùng đầu nguồn sông Hương, giữa cuộc kháng chiến chống Mỹ, đất nước còn chia cắt hai miền.
- Xuất xứ trong SGK: in trong Thơ Việt Nam 1945 – 1975 (NXB Giáo dục, 1985). Đây là đoạn trích: bài thơ gốc khá dài, SGK lược nhiều đoạn, đánh dấu […].
- Thể thơ: tự do; câu dài ngắn khác nhau, gần với lời nói, nhiều chỗ ngắt dòng bất ngờ.
- Bố cục: có thể chia hai phần – phần đầu (đến dòng nói về đứa con không cha, côi cút) là kí ức quê nhà và hình ảnh mẹ; phần sau là hình ảnh đất nước qua cái nhìn của “tôi” và niềm mong thống nhất.
Soạn bài Bài thơ của một người yêu nước mình – Chuẩn bị (trang 68)
Phần chuẩn bị yêu cầu em đọc trước văn bản, tìm hiểu tác giả, hoàn cảnh ra đời và suy nghĩ về nhan đề.
Câu 1: Thông tin về tác giả Trần Vàng Sao và hoàn cảnh ra đời bài thơ (trang 68)
Đọc trước văn bản Bài thơ của một người yêu nước mình; tìm hiểu thêm thông tin về tác giả Trần Vàng Sao và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm.
Trả lời:
- Tác giả: Trần Vàng Sao là bút danh của Nguyễn Đính (1941 – 2018), người Thừa Thiên Huế, mất tại Huế. Ông là sinh viên Đại học Huế, tham gia phong trào học sinh, sinh viên, rồi lên chiến khu công tác ở Ban Tuyên huấn Thành ủy Huế (1965 – 1970). Thơ ông giản dị, nhiều chất văn xuôi, mang giọng Huế, hay viết về những thân phận nhỏ bé, nghèo khổ ở làng quê.
- Tác phẩm tiêu biểu: Bài thơ của một người yêu nước mình (1967), Người đàn ông 43 tuổi nói về mình, Buổi trưa giữa đường tôi ngồi núp mưa, hồi kí Tôi bị bắt. Tập thơ cùng tên in năm 2020, đến năm 2021 được trao Giải thưởng Sách quốc gia.
- Thời điểm sáng tác: tháng 12/1967, tại chiến khu miền thượng nguồn sông Hương, ngay trước Tết Mậu Thân 1968, khi miền Nam đang chiến đấu ác liệt và đất nước bị chia cắt.
Câu 2: Nhan đề gợi cho em suy nghĩ gì trước khi đọc? (trang 68)
Trả lời:
Nhan đề rất dài và rất thường, như một lời tự giới thiệu: đây là bài thơ của một người bình thường, không phải một nhà thơ lớn hay một người anh hùng. Hai chữ “nước mình” thân mật, gần gũi như cách người dân vẫn gọi quê hương trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Trước khi đọc, em đoán bài thơ sẽ nói về lòng yêu nước bằng giọng tâm tình, chân thật, gắn với những điều cụ thể của đời sống chứ không bằng lời hô hào lớn lao.
Soạn bài Bài thơ của một người yêu nước mình – Câu hỏi trong khi đọc (trang 69 – 71)
Bốn câu hỏi bên lề giúp em đi theo dòng cảm xúc trong bài qua từng đoạn.
Câu 1: Chú ý đối tượng mà nhân vật trữ tình hướng tới (trang 69)
Trả lời:
Ở đoạn mở đầu, cái nhìn của “tôi” dừng lại ở những gì gần gũi nhất của một buổi sáng quê nhà: gió đưa bông nứa bên bờ sông, mùi “toóc khô” (rơm rạ, theo cách gọi ở Huế) còn vương hương lúa, đàn chim sẻ trước sân, lũ trẻ đứng nhìn. Tiếp đó là những kỉ niệm bâng quơ: một tiếng cười, một câu ca dao buồn, một vết bùn khô, một tiếng còi tàu. Đất nước được nhận ra từ chính những cảnh vật, con người bình thường quanh mình.
Câu 2: Những hình ảnh, từ ngữ khắc họa hình ảnh mẹ (trang 69)
Trả lời:
- Công việc, tuổi tác, cảnh ngộ: “Mẹ tôi thức khuya dậy sớm”, tuổi đã ngoài năm mươi, chồng mất đã hơn chục năm, từ khi người con mới bắt đầu học chữ.
- Sự tảo tần: từ “tảo tần” cùng hình ảnh mẹ chạy chợ, gánh nước nuôi con cho thấy cuộc sống bấp bênh, mua bữa nào ăn bữa ấy.
- Nỗi khổ: nhà thường xuyên có người đến đòi nợ, mẹ phải nghiến răng mà sống, hiếm khi cười, trưa tối thường lặng lẽ khóc một mình, thở dài không nói ra.
- Tình thương con: mẹ thương đứa con mồ côi cha, lủi thủi đáng thương.
⇒ Mẹ hiện lên là người phụ nữ nghèo, góa bụa, vất vả, lặng lẽ chịu đựng và hết lòng vì con – hình ảnh tiêu biểu cho bao bà mẹ Việt Nam thời chiến.
Câu 3: Hình dung về hình ảnh đất nước trong cảm nhận của nhân vật trữ tình (trang 70)
Trả lời:
Qua con mắt của “tôi”, đó là một đất nước nghèo, còn nhiều thiếu thốn và đau khổ: “áo rách”, mái nhà dột để gió lùa vào, “lầm than”. Nhưng đó cũng là đất nước của tình nghĩa: người với người vẫn thương nhau, vẫn nhớ cội nguồn, vẫn thắp đèn chờ ngày mai. Đất nước còn hiện lên qua những nét văn hóa thân thuộc (điệu hò mái đẩy, sáu câu vọng cổ, ba ông táo trong bếp), qua người cha người mẹ lam lũ trên rừng, ngoài biển, qua bốn nghìn năm dựng nước gắn với Âu Cơ, Thánh Gióng. Em hình dung đó là một đất nước vừa khốn khó vừa bền bỉ, đẹp từ bên trong.
Câu 4: Liên hệ kiến thức lịch sử để hiểu điều tác giả mong muốn (trang 71)
Trả lời:
Năm 1967, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (1954), đất nước đã bị chia cắt ở vĩ tuyến 17 hơn mười năm; miền Nam đang chiến đấu chống Mỹ, gia đình hai miền xa cách. Vì vậy, điều tác giả mong muốn là đất nước được thống nhất, để người Việt không còn phân biệt Nam – Bắc: “Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam”. Mong ước ấy là khát vọng chung của cả dân tộc lúc bấy giờ, và đến năm 1975 mới trở thành hiện thực.
Soạn bài Bài thơ của một người yêu nước mình – Câu hỏi sau khi đọc (trang 71 – 72)
Sáu câu hỏi sau khi đọc tập trung vào hình ảnh đất nước, điệp khúc, giọng điệu, biện pháp tu từ và so sánh với đoạn thơ của Nguyễn Khoa Điềm.
Câu 1: Đất nước hiện ra qua những hình ảnh nào? Đặc điểm chung? (trang 71)
Trong cảm nhận của nhân vật trữ tình, đất nước hiện ra qua những hình ảnh nào? Đặc điểm chung của những hình ảnh ấy là gì?
Trả lời:
- Thiên nhiên, cảnh quê: gió, bông nứa trắng bên sông, toóc khô, chim sẻ, cây cỏ trong vườn, giọt nước trong lá sen.
- Con người: người mẹ góa tảo tần, lũ trẻ trước sân, cha làm cá ngoài biển, mẹ đốt củi trên rừng.
- Cuộc sống nghèo khó: áo rách, nhà dột phên, nợ nần, bữa rau.
- Văn hóa, phong tục: câu ca dao, điệu mái đẩy, câu vọng cổ, tục thờ ông Táo.
- Lịch sử, truyền thuyết: bốn nghìn năm nằm gai nếm mật, trứng Âu Cơ, hồn Thánh Gióng.
- Nỗi đau chia cắt và niềm mong thống nhất.
Đặc điểm chung: các hình ảnh ấy đều quen thuộc, giản dị, gắn với đời sống thường ngày, có khi rất riêng của một con người (mẹ tôi, căn nhà nhỏ của tôi) nhưng cũng là của mọi người Việt. Đất nước không trừu tượng mà cụ thể, có buồn vui, có nghèo khổ và có chiều sâu văn hóa, lịch sử.
Câu 2: Từ ngữ, dòng thơ thể hiện trực tiếp tình cảm và ý nghĩa điệp khúc (trang 71)
Những từ ngữ, dòng thơ, câu thơ nào thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của nhân vật trữ tình với đất nước? Phân tích ý nghĩa của dòng thơ có tính chất như một điệp khúc trong bài thơ.
Trả lời:
- Từ ngữ, dòng thơ bộc lộ trực tiếp: động từ “yêu” lặp lại nhiều lần; các dòng so sánh tình yêu đất nước với tình yêu cây cỏ, yêu mẹ, yêu mái nhà nhỏ, yêu người thương; dòng thơ “Vẫn yêu nhau trong từng hơi thở”; ước muốn mong ngày thống nhất.
- Điệp khúc: dòng thơ mở đầu bằng “Tôi yêu đất nước này” được lặp lại bốn lần với bốn kết thúc khác nhau:
Tôi yêu đất nước này như thế
Tôi yêu đất nước này áo rách
Tôi yêu đất nước này lầm than
Tôi yêu đất nước này chân thật
Ý nghĩa:
- Tạo nhịp cho bài thơ tự do vốn không theo vần luật, như một sợi chỉ xuyên suốt nối các đoạn với nhau.
- Mỗi lần lặp là một sắc thái của tình yêu: yêu những điều bình dị vừa kể; yêu cả cái nghèo; yêu cả nỗi khổ đau; và cuối cùng khẳng định tình yêu ấy là thật lòng, không màu mè.
- Điệp khúc nhấn mạnh tình yêu không điều kiện: đất nước đẹp hay nghèo, vui hay đau, nhân vật trữ tình vẫn yêu.
Câu 3: Giọng điệu của nhân vật trữ tình và tình cảm với đất nước (trang 71)
Hãy tìm các biểu hiện về giọng điệu của nhân vật trữ tình trong Bài thơ của một người yêu nước mình. Qua đó, em có suy nghĩ gì về tình cảm, thái độ của nhân vật trữ tình đối với đất nước?
Trả lời:
- Giọng thủ thỉ, tâm tình: như đang kể chuyện đời mình, xưng “tôi”, gọi “mẹ tôi”, dùng nhiều từ ngữ đời thường, nhiều dòng thơ dài như câu nói.
- Giọng trầm buồn, xót xa: khi kể về mẹ góa, về căn nhà nợ nần, về tuổi thơ buồn.
- Giọng tự hào: khi nhắc đến những nét văn hóa và truyền thống bốn nghìn năm, Âu Cơ, Thánh Gióng.
- Giọng khẩn thiết, tha thiết: ở đoạn cuối, khi nói về nỗi đau chia cắt và niềm mong thống nhất.
Qua sự chuyển giọng ấy, em thấy tình yêu đất nước của nhân vật trữ tình sâu sắc, chân thành và tỉnh táo: không né tránh cái nghèo, cái khổ, mà chính vì thấy rõ những điều ấy nên càng thương, càng gắn bó và càng khao khát đất nước được trọn vẹn.
Câu 4: Tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ (trang 71)
Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ được nhà thơ sử dụng trong bài thơ trên.
Trả lời:
Em có thể chọn biện pháp so sánh ở đoạn nhân vật trữ tình ví tình yêu đất nước với tình yêu cây cỏ trong vườn, “Như yêu mẹ tôi chịu khó chịu thương”, rồi ở đoạn cuối lại so sánh với tình yêu dành cho mái nhà nhỏ nơi có mẹ, với tình yêu đôi lứa.
Tác dụng:
- Biến khái niệm lớn lao, trừu tượng là đất nước thành những đối tượng gần gũi, cụ thể ai cũng có.
- Cho thấy tình yêu đất nước bắt đầu từ tình yêu gia đình, quê nhà; yêu nước cũng tự nhiên như yêu mẹ.
- Làm lời thơ giản dị, thân thiết mà giàu sức gợi, dễ chạm đến người đọc.
Ngoài ra, em cũng có thể phân tích phép điệp (điệp khúc “Tôi yêu đất nước này”) hoặc phép liệt kê các nét văn hóa (mái đẩy, vọng cổ, ông Táo).
Câu 5: So sánh với đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm (trang 71)
Quan niệm và cách thể hiện tình cảm đối với đất nước của Trần Vàng Sao trong bài thơ trên có gì giống và khác với Nguyễn Khoa Điềm qua đoạn thơ trích Đất Nước (trường ca Mặt đường khát vọng) được SGK dẫn, từ câu Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi đến câu Đất Nước có từ ngày đó…
Trả lời:
| Tiêu chí | Trần Vàng Sao | Nguyễn Khoa Điềm |
|---|---|---|
| Điểm giống | Cả hai cùng quan niệm đất nước không xa xôi mà có ngay trong đời sống bình dị của mỗi gia đình, mỗi người; cùng gắn đất nước với văn hóa, phong tục, truyền thống lâu đời; cùng dùng chất liệu dân gian và giọng thơ tâm tình. | |
| Quan niệm | Đất nước là quê nhà cụ thể của “tôi”: người mẹ góa, căn nhà dột, câu hò, câu vọng cổ; là một đất nước đang nghèo khổ, chia cắt. | Đất Nước được nhìn theo chiều dài lịch sử, cắt nghĩa nguồn gốc: có từ những câu chuyện cổ tích, miếng trầu của bà, búi tóc của mẹ, cách dân mình trồng tre đánh giặc, tên gọi cái kèo cái cột, hạt gạo một nắng hai sương. |
| Cách thể hiện | Bộc lộ trực tiếp bằng điệp khúc “Tôi yêu đất nước này”, giọng kể chuyện đời mình; thơ tự do, nhiều chi tiết hiện thực, có cả nỗi đau, cái nghèo. | Thiên về suy tư, lí giải: Đất Nước bắt đầu… Đất Nước lớn lên…; đại từ “ta” mang tính khái quát cho cả cộng đồng; dày đặc chất liệu ca dao, phong tục. |
⇒ Hai đoạn thơ bổ sung cho nhau: Nguyễn Khoa Điềm giúp ta hiểu Đất Nước từ đâu mà có, còn Trần Vàng Sao giúp ta cảm thấy Đất Nước đang sống, đang đau, đang hi vọng trong từng mái nhà.
Câu 6: Viết đoạn văn hoặc bài thơ về đất nước (trang 72)
Chọn và thực hiện một trong các nhiệm vụ sau: Hãy viết một đoạn/bài thơ về đất nước với chủ đề Đất nước tôi; Viết một đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) giới thiệu một vẻ đẹp của đất nước trong cảm nhận của nhà thơ Trần Vàng Sao.
Trả lời:
Gợi ý đoạn văn cho nhiệm vụ thứ hai:
Trong Bài thơ của một người yêu nước mình, vẻ đẹp khiến em nhớ nhất là vẻ đẹp của một đất nước nghèo mà giàu tình nghĩa. Trần Vàng Sao không giấu cái nghèo: áo rách, mái nhà dột, người mẹ góa quanh năm lo nợ. Thế nhưng ngay trong cảnh ấy, con người vẫn thương nhau, vẫn không quên cội nguồn, vẫn thắp đèn ngồi đợi sáng. Vẻ đẹp ấy còn đến từ những thứ rất mộc: câu hò mái đẩy, sáu câu vọng cổ, bếp lửa có ba ông táo, giọt nước đọng trong lá sen. Không có gì lộng lẫy, nhưng mỗi hình ảnh đều thấm hồn quê Việt. Đọc bài thơ, em hiểu rằng đất nước đẹp không phải vì giàu có, mà vì những con người bền bỉ, thủy chung đã sống và yêu thương trên mảnh đất này. Yêu nước, vì thế, cũng là biết nâng niu những điều bình dị quanh mình.
Kết luận
Qua Bài thơ của một người yêu nước mình, Trần Vàng Sao cho thấy lòng yêu nước có thể được nói bằng giọng giản dị nhất, bắt đầu từ mẹ, từ căn nhà, từ những câu hò, câu vọng cổ, và đi tới khát vọng đất nước thống nhất. Khi soạn bài, em cần nắm hoàn cảnh ra đời năm 1967, ý nghĩa điệp khúc “Tôi yêu đất nước này”, sự chuyển đổi giọng điệu và nét riêng so với đoạn thơ Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm.
Xem thêm:
- Soạn bài Đàn ghi ta của Lor-ca
- Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo): Tác giả, tác phẩm
- Soạn văn 12 Cánh diều