Ngôn ngữ là hệ thống gồm âm thanh (hoặc chữ viết, kí hiệu), từ ngữ và quy tắc ghép chúng thành câu, được một cộng đồng người dùng chung để trao đổi với nhau và để nghĩ. Tiếng Việt, tiếng Anh, ngôn ngữ kí hiệu của người khiếm thính đều là ngôn ngữ. Hỏi “ngôn ngữ nghĩa là gì” trong giờ Ngữ văn thì nên trả lời theo hai tầng: công cụ giao tiếp của cả cộng đồng, và cách một người viết sử dụng công cụ ấy.
| Khái niệm | Hệ thống tín hiệu có quy tắc mà con người dùng để giao tiếp và tư duy |
| Nghĩa thứ hai | Cách dùng từ, đặt câu mang dấu ấn riêng (ngôn ngữ của một nhà văn, một tác phẩm) |
| Gốc từ | Hán Việt: ngôn 言 (lời nói) + ngữ 語 (lời, tiếng nói) |
| Thuộc | Đối tượng của ngôn ngữ học; trong nhà trường gắn với phần Tiếng Việt và giao tiếp |
| Dấu hiệu nhận biết | Có đơn vị (âm, từ, câu), có luật kết hợp, cả cộng đồng hiểu chung |

Ngôn ngữ được định nghĩa ra sao?
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên ghi cho từ này ba nét nghĩa. Nét thứ nhất là hệ thống âm, từ và luật kết hợp mà người trong một cộng đồng dùng để nói với nhau. Nét thứ hai rộng hơn: bất kì hệ kí hiệu nào dùng để diễn đạt, thông báo cũng được gọi là ngôn ngữ, như ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ lập trình. Nét thứ ba gần với môn văn nhất: cách thức, trình độ dùng lời có màu sắc riêng của một người hay một tác phẩm.
Ngôn ngữ học hiện đại thường bắt đầu từ Ferdinand de Saussure. Cuốn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương in năm 1916, sau khi ông mất, do hai đồng nghiệp biên soạn từ vở ghi bài giảng của sinh viên, coi ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu. Mỗi tín hiệu có hai mặt dính liền: mặt âm thanh (cái biểu đạt) và mặt khái niệm (cái được biểu đạt). Âm “bàn” và ý niệm về cái bàn gắn với nhau không vì lí do tự nhiên nào, mà vì cả cộng đồng người Việt đã quen quy ước như thế.
Gói lại cho học sinh dễ nhớ: ngôn ngữ là “bộ luật chơi” chung về âm, chữ và câu. Lời nói của từng người là những ván chơi cụ thể theo bộ luật ấy.
Năm đặc điểm làm nên một ngôn ngữ
Không phải hệ thống kí hiệu nào cũng là ngôn ngữ theo nghĩa hẹp. Đèn giao thông chỉ có ba tín hiệu, không ghép thành câu mới được. Ngôn ngữ của con người thì có mấy nét riêng sau.
- Có tính hệ thống. Âm ghép thành tiếng, tiếng thành từ, từ thành câu, câu thành văn bản. Mỗi tầng có luật riêng: tiếng Việt nói “áo đỏ”, không nói “đỏ áo” khi muốn gọi cái áo màu đỏ.
- Có tính quy ước. Quan hệ giữa âm và nghĩa do cộng đồng thỏa thuận. Cùng một con vật, người Việt gọi “mèo”, người Anh gọi cat.
- Có tính sản sinh. Từ vài chục âm và vài nghìn từ quen thuộc, ta đặt được vô số câu chưa ai nói trước đó mà người nghe vẫn hiểu.
- Có tính xã hội. Ngôn ngữ thuộc về cả cộng đồng; một người không thể tự ý đổi nghĩa của từ “nước” rồi bắt người khác theo.
- Luôn biến đổi. Từ cũ rơi rụng, từ mới xuất hiện, nghĩa dịch chuyển. Nhiều từ mượn tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh đã thành quen, có thể xem thêm cách nhận diện từ mượn và các lớp từ vay mượn.
Hai chức năng lớn thường được nêu trong giáo trình là giao tiếp và tư duy. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp phổ biến nhất vì ai trong cộng đồng cũng dùng được, và nói được gần như mọi điều, từ cảm xúc tới tri thức khoa học. Đồng thời con người nghĩ bằng khái niệm, mà khái niệm được cố định nhờ từ ngữ, nên tư duy và ngôn ngữ đi liền nhau.
Những kiểu ngôn ngữ học sinh hay gặp
Trong sách và đề thi, chữ “ngôn ngữ” thường đi kèm một từ khác để chỉ một kiểu cụ thể.
| Cách gọi | Nghĩa là | Ví dụ |
|---|---|---|
| Ngôn ngữ dân tộc | Ngôn ngữ riêng của một cộng đồng, một quốc gia | tiếng Việt, tiếng Tày, tiếng Nhật |
| Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết | Hai dạng tồn tại: bằng âm thanh kèm ngữ điệu, cử chỉ; hoặc bằng chữ, dấu câu | cuộc trò chuyện; một lá thư |
| Ngôn ngữ nghệ thuật | Lời văn được chọn lọc, giàu hình ảnh, nhạc điệu, dùng trong tác phẩm văn chương | thơ, truyện, kịch |
| Ngôn ngữ kí hiệu | Ngôn ngữ đầy đủ dùng bàn tay, nét mặt, tư thế thay cho âm thanh | ngôn ngữ của cộng đồng người Điếc |
| Ngôn ngữ hình thức | Hệ kí hiệu nhân tạo cho một lĩnh vực hẹp | kí hiệu toán học, ngôn ngữ lập trình |
Phương ngữ là biến thể của cùng một ngôn ngữ theo vùng. Người miền Trung nói “rứa”, “răng”, người miền Bắc nói “thế”, “sao”, nhưng tất cả vẫn là tiếng Việt; chuyện này được kể kĩ trong bài rứa và chi rứa của người miền Trung.
Ngôn ngữ, lời nói và giao tiếp phi ngôn ngữ khác nhau chỗ nào
| Tiêu chí | Ngôn ngữ | Lời nói | Phương tiện phi ngôn ngữ |
|---|---|---|---|
| Bản chất | Hệ thống chung, trừu tượng | Sản phẩm cụ thể khi một người nói, viết | Tín hiệu đi kèm lời: cử chỉ, nét mặt, hình ảnh, số liệu |
| Thuộc về | Cả cộng đồng | Từng cá nhân, từng lúc | Tình huống giao tiếp |
| Ví dụ | Từ vựng và ngữ pháp tiếng Việt | Câu “Mai mình đi học sớm nhé” | Cái gật đầu, biểu đồ trong văn bản thông tin |
Saussure gọi hai vế đầu là langue và parole. Còn phương tiện phi ngôn ngữ thì xuất hiện nhiều ở phần đọc văn bản thông tin trong SGK Ngữ văn: tranh, sơ đồ, bảng biểu giúp người đọc nắm ý nhanh hơn nhưng không thay được câu chữ.
Cũng đừng đánh đồng ngôn ngữ với chữ viết. Chữ chỉ là cách ghi lại; tiếng Việt từng được ghi bằng chữ Nôm trước khi dùng chữ Quốc ngữ, nhưng ngôn ngữ vẫn là một. Về riêng tiếng mẹ đẻ của chúng ta, bài tiếng Việt là ngôn ngữ thế nào và giữ gìn ra sao có thêm nhiều chi tiết.
Dùng ngôn ngữ để tỏ rõ ý nghĩ chính là diễn đạt; muốn đổi chữ này khi viết và khi nói, đọc những chữ thay cho diễn đạt.
Ngôn ngữ trong ca dao, Truyện Kiều và văn nghị luận
Ca dao nói về chính lời ăn tiếng nói
Lời nói chẳng mất tiền mua,
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
Hai câu lục bát nhắc tới chức năng giao tiếp ở mức đời thường nhất. Cùng một hệ thống từ ngữ chung, người khéo biết chọn câu làm người nghe dễ chịu; người vụng có thể làm mất lòng. “Lựa lời” chính là chọn trong kho ngôn ngữ cái phù hợp với hoàn cảnh.
Ngôn ngữ nghệ thuật trong cảnh xuân của Nguyễn Du
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Đây là nghĩa thứ ba của từ: ngôn ngữ như cách dùng chữ của một tác giả. Nguyễn Du chọn hai gam màu xanh và trắng, chữ “tận” mở không gian ra xa, chữ “điểm” làm vài bông hoa nổi bật trên nền xanh. Từ ngữ đều quen thuộc, cái hay nằm ở cách sắp đặt. Muốn đọc kĩ cả đoạn, xem phần soạn đoạn trích Cảnh ngày xuân; muốn thấy cách nhận xét ngôn ngữ của một nhà thơ hiện đại, có thể đọc bài ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Văn Cao.
Văn nghị luận bàn về sức sống của tiếng Việt
Văn bản của Đặng Thai Mai trong sách Ngữ văn 7 lập luận rằng tiếng Việt vừa đẹp ở âm thanh, nhịp điệu, vừa giàu ở vốn từ và khả năng diễn đạt. Ở đây ngôn ngữ được nhìn như tài sản của cả dân tộc, gắn với khái niệm văn hóa và ý thức giữ gìn. Bài soạn Sự giàu đẹp của tiếng Việt tóm các luận điểm chính của văn bản.
Tự kiểm tra: bốn câu hỏi về ngôn ngữ
Câu 1: Trong câu “Tác giả này có ngôn ngữ mộc mạc, gần với lời ăn tiếng nói nông thôn”, từ ngôn ngữ được dùng theo nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa chỉ cách dùng từ, đặt câu mang dấu ấn riêng của một người viết. Câu không nói về hệ thống tiếng Việt nói chung mà nói về phong cách lời văn của một tác giả.
Câu 2: Đèn tín hiệu giao thông có phải là ngôn ngữ theo nghĩa hẹp không? Vì sao?
Đáp án: Không. Đèn giao thông là một hệ tín hiệu có quy ước, nhưng chỉ có vài tín hiệu cố định, không ghép lại được thành vô số thông báo mới và không dùng để tư duy. Ngôn ngữ con người thì có tầng đơn vị, có luật kết hợp và tính sản sinh.
Câu 3: Chỉ ra đâu là ngôn ngữ, đâu là lời nói: (a) hệ thống thanh điệu của tiếng Việt; (b) câu bạn Lan vừa nói “Chiều nay lớp mình lao động”; (c) quy tắc tính từ đứng sau danh từ.
Đáp án: (a) và (c) thuộc ngôn ngữ vì là cái chung, ai nói tiếng Việt cũng tuân theo. (b) là lời nói, sản phẩm cụ thể của một người ở một thời điểm.
Câu 4: Kể ba phương tiện phi ngôn ngữ có thể dùng khi thuyết trình về một loài chim và nêu tác dụng.
Đáp án tham khảo: Ảnh chụp loài chim (giúp người nghe hình dung hình dáng, màu lông), bản đồ đường di cư (cho thấy quãng đường mà lời tả khó diễn đạt hết), cử chỉ tay chỉ vào từng phần ảnh (giữ sự chú ý). Các phương tiện này hỗ trợ lời nói chứ không thay thế hoàn toàn.
Những điều học sinh còn băn khoăn về ngôn ngữ
Ngôn ngữ nghĩa là gì nếu giải thích bằng một câu?
Ngôn ngữ là hệ thống âm, chữ, từ và luật đặt câu mà một cộng đồng dùng chung để trao đổi và suy nghĩ. Khi bàn về văn chương, từ này còn chỉ cách dùng lời riêng của một tác giả.
Chức năng của ngôn ngữ là gì?
Hai chức năng cơ bản là làm phương tiện giao tiếp và làm công cụ của tư duy. Một số nhà nghiên cứu chia nhỏ hơn: thông báo, biểu cảm, tác động tới người nghe, duy trì quan hệ, tạo văn bản.
Ngôn ngữ và tiếng khác nhau thế nào?
Trong cách nói thường ngày, “tiếng Việt” và “ngôn ngữ Việt” gần như là một. “Ngôn ngữ” là từ Hán Việt mang tính khái quát, hay dùng trong sách vở; “tiếng” là từ thuần Việt, gắn với tên cụ thể như tiếng Mường, tiếng Khmer.
Trên thế giới có bao nhiêu ngôn ngữ?
Các ước tính thường dao động quanh con số sáu đến bảy nghìn, tùy cách tách ngôn ngữ với phương ngữ. Rất nhiều ngôn ngữ chỉ còn ít người nói và có nguy cơ biến mất trong thế kỷ này.
Ngôn ngữ nghệ thuật là gì?
Là lời văn trong tác phẩm văn chương, được chọn và sắp xếp để gợi hình, gợi cảm, có nhạc điệu và mang dấu ấn người viết. Nó dùng chính từ ngữ của ngôn ngữ chung nhưng tổ chức lại cho đẹp và nhiều tầng nghĩa hơn.