Người ta hay nói cuộc đời ông có duyên với bốn chữ “Bình”: sinh ở Quảng Bình, làm báo ở Tân Bình (Sài Gòn), yêu một người con gái Bình Thuận và mất ở Bình Định. Hàn Mặc Tử (1912 – 1940), tên thật Nguyễn Trọng Trí, là nhà thơ của phong trào Thơ mới, người khởi xướng Trường thơ Loạn, tác giả Gái quê, Thơ Điên và những bài thơ học trò thuộc lòng như Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín. Ông mất ở trại phong Quy Hòa khi mới hai mươi tám tuổi.
Lệ Mỹ, Sa Kỳ, Pellerin: tuổi nhỏ theo cha khắp miền Trung

| Tên thật | Nguyễn Trọng Trí |
| Bút danh | Hàn Mặc Tử (Hàn Mạc Tử); trước đó: Minh Duệ Thị, Phong Trần, Lệ Thanh |
| Năm sinh – năm mất | 22/9/1912 – 11/11/1940 |
| Quê quán | Sinh ở làng Lệ Mỹ, Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình; tổ tiên gốc họ Phạm ở Thanh Hóa, sau dời vào Thừa Thiên – Huế |
| Thể loại | Thơ Đường luật, thơ mới, kịch thơ, văn xuôi |
| Tác phẩm tiêu biểu | Gái quê (1936), Thơ Điên (sau đổi là Đau thương, 1938), Xuân như ý, Thượng thanh khí, Duyên kỳ ngộ (kịch thơ, 1939), Chơi giữa mùa trăng |
| Nơi an nghỉ | Ghềnh Ráng, Quy Nhơn (cải táng từ Quy Hòa năm 1959) |
| Trong SGK hiện hành | Mùa xuân chín, Đây thôn Vĩ Dạ |
Tổ tiên Hàn Mặc Tử vốn họ Phạm ở Thanh Hóa. Vì liên quan đến quốc sự, một đời trong họ phải chạy vào Thừa Thiên – Huế và đổi sang họ Nguyễn theo họ mẹ. Cha ông, ông Nguyễn Văn Toản, làm việc cho Sở Thương chánh, thường xuyên đổi nhiệm sở; ông đang làm chủ sự ở Nhật Lệ – Đồng Hới thì cậu con trai thứ tư chào đời ở làng Lệ Mỹ.
Vì cha đi đâu, gia đình theo đó, cậu bé Trí học tiểu học ở Sa Kỳ (1920), Quy Nhơn, Bồng Sơn (1921 – 1923), rồi lại Sa Kỳ (1924). Năm 1926, cha mất ở Huế; mẹ cho cậu học tiếp ở trường Pellerin. Năm 1930, ông thôi học, theo mẹ vào Quy Nhơn. Gia đình ông theo Công giáo; ông được rửa tội ở nhà thờ Tam Tòa, Đồng Hới.
Từ Minh Duệ Thị đến Hàn Mặc Tử: bốn lần đổi bút danh
Mười sáu tuổi, ông đã làm thơ Đường luật và ký Minh Duệ Thị, sau đổi thành Phong Trần, rồi Lệ Thanh (một số tài liệu chỉ ghi hai bút danh sau). Năm 1936, khi chủ trương phụ trương văn chương của báo Saigon, ông lấy hiệu Hàn Mạc Tử, nghĩa là người đứng sau bức rèm lạnh. Bạn bè gợi ý thêm vầng trăng khuyết vào bức rèm, chữ “Mạc” thành “Mặc”, và cái tên Hàn Mặc Tử ở lại đến hôm nay. Cả hai cách viết vẫn được dùng song song trong sách báo.
Thời trẻ, ông từng gặp cụ Phan Bội Châu và chịu ảnh hưởng khá lớn. Cụ Phan còn giới thiệu bài thơ Thức khuya của chàng trai họ Nguyễn lên báo. Có thuyết kể ông được một suất học bổng đi Pháp nhưng vì quá thân với cụ Phan nên không đi được.
Sài Gòn, báo Công luận và tập Gái quê (1936)
Khoảng hai mươi mốt tuổi, ông vào Sài Gòn lập nghiệp, lúc đầu làm ở Sở Đạc điền, sau phụ trách trang thơ cho báo Công luận. Một cô gái ở Phan Thiết tên Mộng Cầm hay gửi thơ đến tòa soạn; hai người trao đổi thư từ, rồi ông ra tận Phan Thiết gặp nàng. Mối tình ấy để lại dấu vết trong khá nhiều bài thơ của ông về sau.
Năm 1936, tập Gái quê ra đời, tập thơ duy nhất được in khi ông còn sống. Đó là thơ tình quê mộc mạc, e ấp, với những bài như Bẽn lẽn, Uống trăng, Nắng tươi. Một tờ báo phụ nữ ở Sài Gòn còn mời ông làm chủ bút, nhưng đúng lúc ấy những dấu hiệu bệnh tật đã bắt đầu.
Thơ Điên và Trường thơ Loạn ở đất Bình Định
Ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử cùng Quách Tấn, Yến Lan và Chế Lan Viên được người đương thời gọi là “Bàn thành tứ hữu”, bốn người bạn ở thành Đồ Bàn. Trong nhóm bạn ấy, Hàn Mặc Tử là người đề xướng lập Trường thơ Loạn, với những gương mặt chính là ông, Chế Lan Viên và Yến Lan; về sau có thêm Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao. Quách Tấn gắn bó thân thiết với các bạn nhưng thơ ông đi theo lối Đường luật trang nhã, không mang màu sắc ấy. Thơ Loạn đầy trăng, máu, hồn, những hình ảnh ma quái, những liên tưởng vượt ra ngoài lối cảm xúc quen thuộc của Thơ mới.
Tập Thơ Điên (1938), về sau đổi tên là Đau thương, gồm ba phần Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và hồn điên. Phần Hương thơm có Đây thôn Vĩ Dạ, Mùa xuân chín, Đà Lạt trăng mờ, Những giọt lệ; phần cuối là những bài khó đọc nhất như Hồn là ai, Ngủ với trăng, Trăng tự tử. Các nhà nghiên cứu sau này còn tìm thấy trong thơ ông dấu ấn của chủ nghĩa tượng trưng, siêu thực và Kinh Thánh.
Ngoài thơ, ông còn viết kịch thơ Duyên kỳ ngộ (1939), vở Quần tiên hội bỏ dở năm 1940 và tập thơ – văn xuôi Chơi giữa mùa trăng. Các tập Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên nghiêng hẳn về cảm hứng tôn giáo, với những bài như Ave Maria. Phần lớn các tập này chỉ được in sau khi ông mất, nhờ bạn bè và gia đình gìn giữ bản thảo.
Những câu nhận định nổi tiếng của Chế Lan Viên và Hoài Thanh về ông được tập hợp và giải thích ở bài Chế Lan Viên, Hoài Thanh nhận xét về Hàn Mặc Tử. Về nét riêng trong thơ ông, đọc thêm bài phong cách sáng tác của Hàn Mặc Tử; còn vì sao ông bị gọi là “nhà thơ điên”, xem bài Hàn Mặc Tử được mệnh danh là gì.
Bệnh phong và năm mươi hai ngày cuối ở Quy Hòa
Theo gia đình, khoảng đầu năm 1935 trên người ông đã xuất hiện dấu hiệu của bệnh phong, nhưng ông nghĩ đó chỉ là một chứng “phong ngứa” không đáng kể. Những năm 1938 – 1939, bệnh trở nặng, ông đau đớn dữ dội. Chính quyền địa phương hay tin, đòi đưa ông đi cách ly; gia đình chạy chữa nhiều nơi, phần lớn bằng thuốc của các thầy lang.
Ngày 20/9/1940, ông vào trại phong Quy Hòa ở Quy Nhơn (có tài liệu chép nhầm thành “Tuy Hòa”), mang số bệnh nhân 1134. Ông mất lúc rạng sáng ngày 11/11/1940 vì bệnh kiết lỵ, khi vừa bước sang tuổi hai mươi tám. Wikipedia dẫn hồi ức của ông Nguyễn Bá Tín, em trai nhà thơ, kể lại lời vị bác sĩ giám đốc bệnh viện: chứng phong không giết người nhanh như vậy, cái chết sớm có phần do nội tạng bị tàn phá vì uống quá nhiều thuốc tạp nham trước khi nhập viện. Năm 1959, chính ông Bá Tín cải táng mộ anh từ Quy Hòa về đồi Ghềnh Ráng.
Có một giai thoại kể ông mắc bệnh sau một buổi đi dạo cùng Mộng Cầm qua nghĩa địa, thấy đốm đỏ bay lên từ một ngôi mộ mới. Chuyện ấy đến nay vẫn được kể, nhưng chỉ là truyện hư cấu: bệnh phong ủ bệnh hàng tháng, thậm chí hàng năm, không thể phát ra sau một đêm.
Những bóng hồng trong thơ Hàn Mặc Tử
Thơ Hàn Mặc Tử gắn với nhiều tên phụ nữ, có người ông gặp, có người chỉ quen qua thư, có người chỉ biết tên: Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình, Thương Thương, Ngọc Sương, Thanh Huy, Mỹ Thiện. Hoàng Cúc ở Vĩ Dạ, Huế thường được nhắc cùng Đây thôn Vĩ Dạ; Mộng Cầm gắn với Phan Thiết; Mai Đình quen ông khi ông đã lâm bệnh. Hai câu mở đầu Đây thôn Vĩ Dạ là lời mời vừa trách vừa thương:
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.
Trọn bài thơ cùng các bài thơ tình khác của ông có ở trang thơ Hàn Mặc Tử.
Mùa xuân chín và Đây thôn Vĩ Dạ trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Mùa xuân chín | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 10; Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Đây thôn Vĩ Dạ | Ngữ văn 11 Cánh diều, tập 2 – Bài 6 (thực hành đọc hiểu); Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích · Mở bài · Kết bài |
Mùa xuân chín có mặt ở cả lớp 9 và lớp 10, nên học sinh gặp Hàn Mặc Tử hai lần trước khi học Đây thôn Vĩ Dạ. Bài thơ mở bằng một bức tranh xuân sáng trong rồi chuyển dần sang nỗi nhớ quê, một thứ cảm xúc trong trẻo ít thấy ở các tập sau của ông.