Văn bản thông tin là kiểu văn bản viết ra chủ yếu để người đọc biết, hiểu một sự vật, sự việc hay hiện tượng: thuật lại một lễ hội, giải thích vì sao có cầu vồng, giới thiệu một danh thắng, chỉ từng bước làm một việc. Học sinh gặp nó từ Ngữ văn 6 và học tiếp đến lớp 12, mỗi lớp một kiểu khác nhau.
| Khái niệm | Văn bản chủ yếu dùng để cung cấp thông tin chính xác, khách quan cho người đọc |
| Nghĩa của chữ “thông tin” ở đây | Điều mang lại hiểu biết, có thể kiểm chứng, không phải cảm xúc hay ý kiến riêng |
| Thuộc | Một trong ba nhóm văn bản của chương trình Ngữ văn 2018, cạnh văn bản văn học và văn bản nghị luận |
| Dấu hiệu nhận biết | Nhan đề nêu thẳng đối tượng, sa-pô, đề mục, số liệu, mốc thời gian, ảnh, sơ đồ, bảng biểu |
| Tiếng Anh | informational text |

Văn bản thông tin sinh ra để làm gì?
Thử hình dung tờ hướng dẫn dán trên hộp sữa, trang giới thiệu một bảo tàng, bản tin về hội khỏe Phù Đổng của trường. Người viết chỉ cần người đọc nắm đúng: việc gì, ở đâu, lúc nào, diễn ra ra sao, làm thế nào. Đó là cái lõi của văn bản thông tin.
Sách Ngữ văn theo chương trình mới mô tả kiểu văn bản này theo phạm vi nó phục vụ: cung cấp thông tin về hiện tượng tự nhiên, thuật lại sự kiện, giới thiệu danh lam thắng cảnh, hướng dẫn quy trình thực hiện một công việc. Mỗi bộ sách diễn đạt một kiểu, nhưng đều xoay quanh hai yêu cầu: thông tin phải chính xác và cách đưa tin phải khách quan.
Học sinh từng học sách cũ sẽ thấy nhóm này gần với văn thuyết minh. Khác ở chỗ phạm vi rộng hơn: ngoài bài thuyết minh còn có bản tin, văn bản hướng dẫn, báo cáo, văn bản tổng hợp nhiều nguồn. Chuyện hai tên gọi liên quan nhau thế nào đã có trong bài văn thuyết minh và các phương pháp của nó; còn vị trí của văn bản thông tin giữa ba nhóm văn bản xem ở bài ba nhóm văn bản trong chương trình mới. Riêng nghĩa từ điển của chữ thông tin (danh từ, động từ, gốc 通信) được tách sang bài giải nghĩa từ thông tin.
Có bao nhiêu kiểu văn bản thông tin?
Không có con số cố định, vì đây là nhóm mở. Trong sách giáo khoa và đề kiểm tra, các kiểu sau hay gặp nhất, chia theo việc mà văn bản làm:
| Kiểu | Văn bản làm gì | Cách sắp xếp thông tin thường thấy |
|---|---|---|
| Thuật lại một sự kiện | Kể một lễ hội, trận đánh, cuộc thi đã diễn ra | Theo trình tự thời gian, từ lúc chuẩn bị đến lúc kết thúc |
| Giới thiệu quy tắc, luật lệ | Cho biết một trò chơi, hoạt động chơi thế nào | Chuẩn bị, luật chơi, cách tính thắng thua |
| Giải thích hiện tượng tự nhiên | Trả lời câu “vì sao” về mưa, sóng thần, nhật thực | Theo quan hệ nguyên nhân – kết quả |
| Giới thiệu danh lam, di tích | Vị trí, lịch sử, vẻ đẹp, giá trị của một địa danh | Theo từng phương diện, đặt dưới các đề mục |
| Hướng dẫn quy trình | Chỉ từng bước làm một việc | Đánh số bước, có hình minh họa |
| Bản tin, báo cáo, văn bản tổng hợp | Đưa tin mới, trình bày kết quả tìm hiểu, gom thông tin nhiều nguồn | Theo tầm quan trọng của thông tin, có trích nguồn |
Nhìn vào đâu để nhận ra?
Đề đọc hiểu thường hỏi “văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào, dựa vào đâu”. Có thể dò theo thứ tự từ ngoài vào trong.
- Nhan đề. Thường gọi thẳng đối tượng hoặc sự kiện: “Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ”, “Ghe xuồng Nam Bộ”. Ít khi là một hình ảnh ẩn dụ khó đoán như nhan đề thơ.
- Sa-pô và đề mục. Đoạn in đậm dưới nhan đề tóm điều quan trọng nhất; các đề mục chia bài thành từng mảng để người đọc nhảy thẳng tới phần cần tìm. Về cách viết đoạn mở đầu này, xem sa-pô đặt ở đâu trong một bài báo.
- Phương tiện phi ngôn ngữ. Ảnh, lược đồ, sơ đồ, bảng số liệu, biểu đồ đi kèm chữ. Chúng không trang trí: một lược đồ trận đánh cho thấy hướng tiến công nhanh hơn ba đoạn văn. Kĩ hơn về nhóm này có trong bài ảnh, sơ đồ, bảng biểu trong văn bản.
- Dữ liệu kiểm chứng được. Mốc thời gian, địa danh, con số, tên người, tên tài liệu được dẫn nguồn.
- Giọng trung tính. Câu văn trần thuật, ít từ cảm thán. Văn bản thông tin vẫn được dùng miêu tả, kể, đôi câu biểu cảm, nhưng các yếu tố ấy phục vụ việc đưa tin chứ không lấn át nó.
Câu hỏi quyết định vẫn là: người viết muốn mình biết điều gì, hay muốn mình cảm, hay muốn mình đồng ý?
Đọc mấy văn bản SGK theo kiểu ấy
Ai ơi mồng 9 tháng 4: một lễ hội kể theo ngày
Văn bản về hội Gióng ở Phù Đổng (Ngữ văn 6, Kết nối tri thức) là mẫu điển hình của kiểu thuật lại sự kiện. Người viết đi lần lượt các ngày hội, từ lúc làng chuẩn bị đến ngày chính hội rồi các nghi lễ sau đó. Đọc câu hỏi trong sách qua phần soạn văn bản về hội Gióng ở Phù Đổng.
Diễn biến Chiến dịch Điện Biên Phủ: chữ, mốc thời gian và ảnh
Ở Ngữ văn 6 Cánh diều, văn bản này chia chiến dịch thành các đợt tiến công, mỗi đợt có thời gian, địa điểm và kết quả. Ảnh minh họa đặt cạnh từng đợt khiến các con số bớt khô. Đây là ví dụ tốt để trả lời câu hỏi “phương tiện phi ngôn ngữ có tác dụng gì”, xem thêm ở bài câu hỏi đọc hiểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Vịnh Hạ Long và Ghe xuồng Nam Bộ: giới thiệu theo phương diện
Hai văn bản này không chạy theo thời gian mà chia đối tượng thành từng mặt. Bài về vịnh Hạ Long (Ngữ văn 9 Cánh diều) chia thành các mục nhỏ, mỗi mục một phương diện của danh thắng, có mục nói cảnh vịnh đổi khác theo góc nhìn và thời gian trong ngày. Bài về ghe xuồng (Ngữ văn 7 Cánh diều) chia phương tiện sông nước thành hai nhóm lớn là xuồng và ghe, rồi kể từng loại nhỏ trong mỗi nhóm. Muốn thấy cách chia mục cụ thể, đọc phần soạn văn bản giới thiệu vịnh Hạ Long và bài soạn Ghe xuồng Nam Bộ của Minh Nguyên.
Lên lớp 7, văn bản giới thiệu luật chơi như văn bản giới thiệu luật trò chơi cướp cờ dạy thêm một kĩ năng: đọc xong phải chơi được. Lớp 8 chuyển sang giải thích hiện tượng tự nhiên, gắn với đề Viết mà site có sẵn dàn ý và bài mẫu giải thích hiện tượng tự nhiên.
Cùng viết về Trái Đất, hai cách khác nhau
Ngữ văn 6 Kết nối tri thức đặt trong cùng một bài học một văn bản thông tin và một bài thơ đều viết về Trái Đất. Đặt chúng cạnh nhau là cách nhanh nhất để thấy văn bản thông tin khác văn bản văn học ở đâu.
| Tiêu chí | Trái Đất – cái nôi của sự sống (văn bản thông tin) | Trái Đất của Gam-da-tốp (thơ) |
|---|---|---|
| Người viết muốn gì | Người đọc hiểu vì sao Trái Đất có sự sống và cần được bảo vệ | Người đọc cảm được tình yêu, nỗi lo cho hành tinh |
| Ngôn ngữ | Thuật ngữ, dữ kiện, câu trần thuật | Hình ảnh, nhân hóa, nhịp thơ |
| Hình thức | Có sa-pô, đề mục, hình minh họa | Chia khổ, dòng thơ |
| Đọc cách nào | Có thể đọc một mục cần tìm | Phải đọc trọn để cảm cả bài |
Chi tiết từng phần của văn bản thông tin này có trong soạn Trái Đất – cái nôi của sự sống. Còn với văn bản nghị luận, ranh giới nằm ở chỗ: nghị luận đưa ra ý kiến rồi dùng lí lẽ bảo vệ ý kiến đó, còn văn bản thông tin chỉ đưa dữ kiện để người đọc tự biết.
Luyện nhận diện văn bản thông tin
Câu 1: Trong ba đoạn sau, đoạn nào là văn bản thông tin? (a) “Mưa rơi lộp độp trên mái tôn, lòng em bỗng nhớ bà da diết.” (b) “Cầu vồng xuất hiện khi ánh sáng Mặt Trời đi qua các giọt nước trong không khí, bị khúc xạ, phản xạ rồi tách thành nhiều màu.” (c) “Theo em, học sinh nên dành mỗi ngày ít nhất mười lăm phút để đọc sách.”
Đáp án: Đoạn (b). Nó giải thích một hiện tượng tự nhiên bằng dữ kiện có thể kiểm chứng, giọng trung tính. Đoạn (a) bộc lộ cảm xúc, thuộc văn bản văn học; đoạn (c) nêu ý kiến của người viết, là câu mở đầu của một đoạn nghị luận.
Câu 2: Một tờ giấy ghi “Bước 1: Gấp đôi tờ giấy vuông theo đường chéo. Bước 2: Mở ra, gấp theo đường chéo còn lại. Bước 3: …”, kèm hình vẽ từng bước. Đây là kiểu văn bản thông tin nào? Dựa vào đâu?
Đáp án: Văn bản hướng dẫn quy trình. Dấu hiệu: các bước đánh số theo thứ tự, câu dạng mệnh lệnh (gấp, mở ra), hình vẽ minh họa đi kèm từng bước để người đọc làm theo được.
Câu 3: Bản tin “Ngày hội đọc sách của trường” viết lần lượt: buổi sáng khai mạc, giữa buổi các lớp thi kể chuyện, cuối buổi trao giải. Thông tin được triển khai theo cách nào?
Đáp án: Theo trình tự thời gian. Cách này giúp người đọc theo dõi sự việc từ đầu đến cuối như đang có mặt.
Câu 4: Nêu tác dụng của ảnh minh họa và lược đồ trong một văn bản thuật lại trận đánh.
Đáp án tham khảo: Ảnh và lược đồ giúp người đọc hình dung địa hình, vị trí, hướng tiến công mà chữ khó tả gọn; làm thông tin trực quan, dễ nhớ; tăng độ tin cậy vì người đọc thấy tận mắt.
Văn bản thông tin từ lớp 6 lên lớp 12
Văn bản thông tin lớp 6 là gì, nói gọn để ghi vở?
Là văn bản dùng để cung cấp thông tin, giúp người đọc biết về một sự việc, hiện tượng. Lớp 6 tập trung vào kiểu thuật lại một sự kiện, sắp xếp theo trình tự thời gian, và làm quen với ảnh, sơ đồ đi kèm.
Văn bản thông tin gồm những loại nào?
Hay gặp nhất là thuật lại sự kiện, giới thiệu quy tắc trò chơi, giải thích hiện tượng tự nhiên, giới thiệu danh lam, hướng dẫn quy trình, bản tin, báo cáo và văn bản tổng hợp.
Văn bản thông tin có được dùng miêu tả, biểu cảm không?
Có, ở mức vừa phải. Một câu tả cảnh hay một câu bày tỏ niềm tự hào giúp bài bớt khô, miễn là không làm sai hay che mất thông tin chính.
Văn bản thông tin tổng hợp là gì?
Là văn bản gom và sắp xếp thông tin từ nhiều nguồn về một chủ đề, thường gặp ở các lớp trên. Điểm cần chú ý là phải ghi rõ nguồn và đối chiếu các nguồn với nhau trước khi đưa vào bài.