Từ mượn là từ tiếng Việt vay của một ngôn ngữ khác, dùng cho những thứ mà vốn từ của ta chưa có cách gọi hoặc gọi chưa thật vừa ý, như giang sơn, quốc gia (gốc Hán), cà phê, xà phòng (gốc Pháp), internet, video (gốc Anh). Đây là bài học tiếng Việt ở lớp 6; hỏi “từ mượn là gì lớp 6” thì câu trả lời ngắn nhất chính là định nghĩa trên.
| Khái niệm | Từ vay của ngôn ngữ khác, dùng khi tiếng mình chưa có cách gọi phù hợp |
| Thuộc | Phân loại từ theo nguồn gốc (đối lập với từ thuần Việt) |
| Nguồn mượn chính | Tiếng Hán nhiều nhất; sau đó là tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga |
| Dấu hiệu nhận biết | Có từ thuần Việt tương đương, hoặc là phiên âm nhiều âm tiết không tách nghĩa được |
| Học ở | Ngữ văn 6, phần Thực hành tiếng Việt (cả ba bộ sách) |

Hiểu khái niệm từ mượn theo sách Ngữ văn 6
Sách Ngữ văn 6 chia vốn từ tiếng Việt theo nguồn gốc thành hai lớp. Lớp thứ nhất là từ thuần Việt, do người Việt tạo ra từ rất sớm: cha, mẹ, nhà, cơm, sông, núi. Lớp thứ hai là từ mượn, tức những từ đi vào tiếng Việt từ một ngôn ngữ khác qua giao lưu văn hóa, buôn bán, học thuật.
Lí do mượn khá dễ hiểu. Khi một đồ vật, một khái niệm mới xuất hiện mà ông bà ta chưa từng đặt tên, cách nhanh nhất là gọi theo tên nó ở nước ngoài. Máy thu thanh từ phương Tây sang thì gọi ra-đi-ô; mạng toàn cầu đến sau thì gọi in-tơ-nét. Nhờ vay mượn, vốn từ của ta rộng thêm, miễn là mượn có chừng mực.
Từ mượn khác với chữ nước ngoài chêm vào câu: “ti vi” ai cũng hiểu, còn “hôm nay mình hơi busy” thì chỉ cần nói “bận”.
Có chữ còn đổi nghĩa sau khi vào tiếng Việt, như chữ auto của giới trẻ: trên nút bấm là tự động, trong lời học trò lại thành “đương nhiên”, kiểu đi học muộn là auto bị ghi tên.
Từ mượn tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh: chia theo nguồn và theo mức Việt hóa
Có hai cách chia hay gặp trong bài học. Cách thứ nhất dựa vào ngôn ngữ cho mượn.
| Nguồn | Đặc điểm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tiếng Hán | Bộ phận lớn và lâu đời nhất; phần lớn đọc theo âm Hán Việt | giang sơn, quốc gia, phụ mẫu, sứ giả, tráng sĩ, thi nhân |
| Tiếng Pháp | Vào tiếng Việt qua tiếp xúc với văn hóa Pháp, nhiều từ chỉ đồ dùng, ăn uống | cà phê, xà phòng, ca lô, ga (nhà ga), ô tô |
| Tiếng Anh | Mới hơn, nhiều trong công nghệ, thể thao, giải trí | internet, video, email, mít tinh |
| Tiếng Nga và tiếng khác | Ít hơn, thường gắn với lịch sử, chính trị, khoa học | xô viết, a-xít, ba-zơ |
Cách thứ hai dựa vào mức độ “nhập tịch”. Những từ đã thành hẳn tiếng nhà thì viết như chữ Việt bình thường, các âm tiết cách nhau bằng khoảng trắng: ti vi, xà phòng, mít tinh. Những từ còn mang dáng ngoại lai, nhất là từ dài ba âm tiết trở lên, trong sách học thường được nối bằng dấu gạch ngang: ra-đi-ô, in-tơ-nét, bôn-sê-vích. Một số từ được giữ gần nguyên dạng gốc, như email, video, online.
Bốn dấu hiệu giúp nhận ra một từ mượn
- Tìm từ thuần Việt cùng nghĩa. Phụ mẫu có cha mẹ, giang sơn có sông núi, thi nhân có nhà thơ. Có một cặp như thế thì từ trang trọng hơn thường là từ Hán Việt, tức từ mượn tiếng Hán.
- Tách từng âm tiết ra xem. Trong a-xít hay ra-đi-ô, không âm tiết nào mang nghĩa riêng. Âm tiết chỉ là mảnh phiên âm, gần như chắc chắn đó là từ mượn tiếng Âu.
- Để ý gạch nối và chữ cái lạ. Dấu gạch ngang nối các âm, hoặc tổ hợp chữ không có trong chính tả tiếng Việt như w, f, j, là dấu hiệu dễ thấy.
- Nhớ lĩnh vực. Từ chỉ khái niệm khoa học, hành chính, chính trị thường là từ Hán Việt; từ chỉ máy móc, đồ dùng mới thường mượn tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.
Dấu hiệu chỉ giúp đoán. Nhiều từ mượn đã quen tới mức không còn ai nhận ra, như ga hay ô tô. Gặp từ nghi ngờ, cách chắc nhất vẫn là tra từ điển.
Từ mượn trong Lượm, Thánh Gióng và trong lời ăn tiếng nói
Chiếc mũ ca lô của chú bé liên lạc
Ca lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Trong bài thơ Lượm của Tố Hữu, ca lô là từ mượn tiếng Pháp (calot), chỉ loại mũ vải không vành của bộ đội. Từ này đã quen thuộc tới mức viết tách như chữ Việt. Đặt cạnh “đội lệch”, nó vẽ ra dáng một chú bé tinh nghịch mà vẫn là chiến sĩ thật sự.
Sứ giả, tráng sĩ, trượng trong truyện Thánh Gióng
Truyện Thánh Gióng kể chuyện vua sai sứ giả đi tìm người tài, rồi cậu bé làng Gióng vươn vai thành tráng sĩ cao hơn một trượng. Cả ba đều là từ mượn tiếng Hán. Sứ giả là người được vua phái đi làm việc; tráng sĩ là người trai khỏe mạnh, có chí lớn; trượng là đơn vị đo chiều dài thời xưa. Lời kể truyền thuyết dùng các từ này khiến câu chuyện mang không khí trang nghiêm của thời dựng nước.
Từ mượn ở quanh ta
Một buổi sáng bình thường đã đầy từ mượn: uống cà phê, đi ô tô buýt tới trường học (chữ học gốc Hán), lên lớp mở video bài giảng. Đó là lí do không thể nói “tiếng Việt trong sáng là không dùng từ mượn”. Vấn đề nằm ở chỗ dùng đúng lúc, đúng chỗ. Câu chuyện chữ xúc xích, một từ gốc Pháp hay bị viết sai, có trong bài xúc xích hay súc xích viết thế nào cho đúng.
Bảng phân biệt từ mượn và từ thuần Việt
| Tiêu chí | Từ thuần Việt | Từ mượn |
|---|---|---|
| Nguồn gốc | Do người Việt tạo ra | Vay của ngôn ngữ khác |
| Sắc thái | Gần gũi, mộc mạc (cha mẹ, vợ) | Từ Hán Việt thường trang trọng (phụ mẫu, phu nhân) |
| Cách viết | Không gạch nối | Có thể có gạch nối hoặc giữ dạng gốc |
| Ví dụ | sông núi, nhà thơ, trời đất | giang sơn, thi nhân, thiên địa |
Cũng cần tách từ mượn với kiểu chêm tiếng Anh tùy tiện của giới trẻ; muốn xem những trường hợp ấy, đọc danh sách từ lóng có gốc tiếng nước ngoài. Về các kiểu cấu tạo từ khác, bài từ ghép chính phụ và đẳng lập giúp ôn lại phần còn lại của bức tranh.
Luyện tập nhận diện từ mượn có đáp án
Câu 1: Tìm từ mượn trong dãy sau và cho biết mượn từ tiếng nào: sông, quốc gia, xà phòng, nhà, video, tráng sĩ, cơm.
Đáp án: Từ mượn gồm quốc gia, tráng sĩ (tiếng Hán), xà phòng (tiếng Pháp), video (tiếng Anh). Các từ sông, nhà, cơm là từ thuần Việt.
Câu 2: Tìm từ thuần Việt tương ứng với các từ Hán Việt: hải đăng, thiên thư, nhật dạ, huynh đệ.
Đáp án: hải đăng – đèn biển; thiên thư – sách trời; nhật dạ – ngày đêm; huynh đệ – anh em. Mỗi cặp cùng nghĩa nhưng từ Hán Việt nghe trang trọng, cổ kính hơn.
Câu 3: Vì sao “ra-đi-ô” có gạch nối, còn “ti vi” thì không?
Đáp án: Ra-đi-ô có ba âm tiết, vẫn còn dáng phiên âm nên sách để dấu gạch ngang giữa các âm. Ti vi chỉ có hai âm tiết, dùng rất quen, đã Việt hóa cao nên viết như từ tiếng Việt bình thường.
Câu 4: Câu “Tối nay lớp mình meeting để plan cho buổi picnic nha” dùng từ mượn đã hợp lí chưa? Sửa lại.
Đáp án: Chưa hợp lí. Meeting, plan là từ tiếng Anh chêm vào trong khi tiếng Việt đã có từ quen thuộc. Riêng picnic (dã ngoại) đã khá phổ biến. Có thể sửa: “Tối nay lớp mình họp để lên kế hoạch cho buổi dã ngoại nhé.”
Ôn lại phần này theo đúng chương trình, có thể dùng trang ôn cuối năm Ngữ văn 6 sách Kết nối hoặc đề cương học kì I lớp 6 bộ Cánh diều.
Những điều học sinh hay hỏi về từ mượn
Từ mượn là gì lớp 6, nói ngắn gọn thế nào?
Đó là những từ ta vay của tiếng nước ngoài khi trong tiếng mình còn thiếu chữ để gọi một sự vật, hiện tượng. Bộ phận lớn nhất là từ mượn tiếng Hán; ngoài ra có từ mượn tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga.
Từ Hán Việt có phải là từ mượn không?
Có. Đây là lớp từ vay từ tiếng Hán, đọc theo cách phát âm Hán Việt, như giang sơn, quốc gia, phụ nữ. Đây là nhóm từ mượn đông nhất trong tiếng Việt.
Cho ví dụ về từ mượn tiếng Anh và tiếng Pháp?
Tiếng Anh: internet, video, email, mít tinh. Tiếng Pháp: cà phê, xà phòng, ca lô, ô tô, ga. Những từ gốc Pháp thường đã Việt hóa sâu hơn vì vào tiếng Việt sớm hơn.
Dùng nhiều từ mượn có làm mất trong sáng tiếng Việt không?
Vay khi tiếng mình thiếu chữ thì không sao, đó là cách làm giàu ngôn ngữ. Chỉ khi đã có từ quen thuộc mà vẫn chêm từ nước ngoài, câu nói mới thành lai căng, khó hiểu với người nghe.