Văn hóa là tất cả những giá trị vật chất lẫn tinh thần mà một cộng đồng người tạo ra, giữ gìn và truyền lại qua nhiều thế hệ: từ tiếng nói, chữ viết, món ăn, nhà cửa đến phong tục, niềm tin và cách đối xử với nhau. Ai gõ “văn hoá là gì” với dấu đặt trên chữ a cũng đang hỏi đúng khái niệm này, chỉ khác kiểu bỏ dấu.
| Nghĩa ngắn | Những gì con người sáng tạo và tích lũy để sống, được cộng đồng thừa nhận và truyền lại |
| Gốc từ | Hán Việt 文化: văn (vẻ đẹp, nét văn) + hóa (biến đổi, giáo hóa); tương ứng chữ culture trong tiếng Anh |
| Loại từ | Danh từ; còn dùng như tính từ trong khẩu ngữ (“ăn nói rất văn hóa”) |
| Hai lớp lớn | Văn hóa vật chất (đồ dùng, kiến trúc, ẩm thực) và văn hóa tinh thần (ngôn ngữ, tín ngưỡng, nghệ thuật, lối ứng xử) |

Ba định nghĩa văn hóa học sinh hay gặp
Văn hóa có vài trăm định nghĩa; đây là ba cách hiểu hay được dẫn.
Hồ Chí Minh, năm 1943. Trong phần ghi chép kèm theo tập Nhật ký trong tù, Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết”, rồi điểm tiếp luật lệ, đạo lí, khoa học, tín ngưỡng, văn chương nghệ thuật và cả đồ dùng phục vụ chuyện ăn mặc, chỗ ở. Toàn bộ những sáng tạo ấy được gọi là văn hóa. Điểm đáng chú ý là cách nhìn rất rộng: cái nồi nấu cơm cũng thuộc văn hóa chẳng kém một bài thơ. Đoạn này in trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3.
UNESCO, năm 2001. Phần mở đầu Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa, được Đại hội đồng UNESCO thông qua ngày 2/11/2001, coi văn hóa là tập hợp những nét đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuệ và cảm xúc của một xã hội hoặc một cộng đồng nhỏ hơn. Bên cạnh văn chương, nghệ thuật, nó bao gồm cả lối sống, cách chung sống với nhau, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng.
Trần Ngọc Thêm, trong giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam. Ông gọi văn hóa là “một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy” qua lao động và sinh sống, khi con người va chạm với thiên nhiên và với nhau. Từ định nghĩa ấy, giáo trình rút ra bốn đặc trưng: tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Chữ “giá trị” ở đây quan trọng: không phải cái gì con người làm ra cũng là văn hóa, thói xả rác bừa bãi thì không.
Chữ “văn” và chữ “hóa” ghép lại thành nghĩa gì
Trong chữ Hán, 文 (văn) vốn là những đường nét đan vào nhau, từ đó mang nghĩa vẻ đẹp, cái được trau chuốt, chữ nghĩa. 化 (hóa) là biến đổi, cảm hóa, như trong giáo hóa, tiến hóa. Ghép lại, văn hóa có thể hiểu là dùng cái đẹp, cái có học để làm con người và xã hội đổi khác theo hướng tốt hơn. Các nhà nghiên cứu thường dẫn câu trong Thoán truyện quẻ Bí của Kinh Dịch, nói về việc quan sát “nhân văn” để giáo hóa thiên hạ, như một nguồn xa của ý này.
Chữ culture phương Tây lại đi đường khác: gốc Latin cultura nghĩa là vun trồng, cày cấy. Theo nhiều nhà nghiên cứu, người Nhật đã dùng hai chữ 文化 để dịch culture trong thời kì tiếp xúc với phương Tây, và nghĩa mới ấy dần phổ biến trong vùng chữ Hán, trong đó có Việt Nam. Một bên là “trồng trọt”, một bên là “làm cho đẹp”, cùng gợi sự chăm chút lâu dài.
Nhìn thấy văn hóa ở đâu quanh mình?
Văn hóa nghe to tát nhưng hiện ra trong những thứ rất gần:
| Lớp | Gồm những gì | Ví dụ gần gũi |
|---|---|---|
| Văn hóa vật chất | Đồ ăn, trang phục, nhà ở, công cụ, đình chùa | Bát phở, áo dài, nhà sàn Tây Bắc, tranh làng Đông Hồ |
| Văn hóa tinh thần | Ngôn ngữ, văn học, tín ngưỡng, lễ hội, nghệ thuật | Ca dao, hát quan họ, Tết Nguyên đán, thờ cúng tổ tiên |
| Văn hóa ứng xử | Cách đối xử với người, với thiên nhiên, với bản thân | Chào hỏi người lớn, xếp hàng, nói lời cảm ơn |
| Văn hóa tổ chức cộng đồng | Gia đình, làng xã, luật tục, quy ước | Hương ước làng, nếp nhà, nội quy lớp học |
Ngay thú chơi cây cũng là văn hóa. Trong bài Văn hóa hoa – cây cảnh của Trần Quốc Vượng (Ngữ văn 9), nhà sử học lần theo thú chơi hoa từ thời Lý – Trần tới nay, qua những làng hoa ven Hà Nội, qua cả cách người ta bố trí non bộ, chậu cảnh trong sân nhà. Một chậu cây trên bàn học, nhìn kĩ, chứa cả một lối sống được truyền qua nhiều đời.
Văn hóa hình thành từ đâu và tác động gì tới mỗi người
Trước hết là môi trường tự nhiên. Cư dân trồng lúa nước ở đồng bằng sông Hồng cần làm thủy lợi chung, sống quần cư thành làng, nên coi trọng tính cộng đồng và sự hòa thuận; người du mục thảo nguyên lại quý sự cơ động. Kế đến là lịch sử: chiến tranh, di cư, những lần đổi triều đều để lại dấu vết trong lễ hội, trong cả tên đất tên làng. Rồi giao lưu: tiếng Việt có lớp từ Hán Việt, có chữ quốc ngữ dùng mẫu tự Latin, có từ mượn tiếng Pháp như ga. Cuối cùng là chính con người, với lao động, sáng tạo và lựa chọn giữ lại cái gì, bỏ đi cái gì.
Chiều ngược lại, văn hóa nặn ra con người. Nó trao cho mỗi người một tiếng mẹ đẻ, một bộ chuẩn mực để biết thế nào là lễ phép, thế nào là xấu hổ, một kho chuyện kể và bài hát để thấy mình thuộc về đâu. Nhưng văn hóa cũng có mặt trái khi những tập tục lạc hậu níu chân người ta lại; bài Nhìn về vốn văn hóa dân tộc của Trần Đình Hượu (Ngữ văn 12) bàn rất thẳng về cả mặt mạnh lẫn mặt yếu của truyền thống. Khi các nền văn hóa va chạm nhiều hơn trong thời hội nhập, câu hỏi giữ bản sắc ra sao được đặt ra trong văn bản Toàn cầu hóa và bản sắc văn hóa dân tộc.
Gợi ý viết đoạn nghị luận về văn hóa ứng xử, văn hóa đọc
Hai đề hay ra nhất với học sinh là văn hóa ứng xử (trên mạng, nơi công cộng) và văn hóa đọc. Vài hướng triển khai:
- Giải thích từ khóa. Văn hóa ứng xử là cách mình nói năng, hành động với người khác theo những chuẩn mực cộng đồng thừa nhận. Văn hóa đọc là thói quen, nhu cầu và cách chọn lọc sách báo của một người hay một xã hội.
- Thực trạng có hai mặt. Nhiều bạn trẻ lập câu lạc bộ đọc sách, quyên góp sách cho vùng khó khăn; song cũng có không ít người lướt mạng hàng giờ mà cả tháng không đọc hết một cuốn. Trên mạng, bình luận lịch sự cạnh những lời miệt thị ẩn danh.
- Nguyên nhân và giải pháp. Đừng chỉ đổ cho điện thoại; hãy nói tới tấm gương trong gia đình, thư viện trường, cách thầy cô giới thiệu sách. Đọc thêm bài Bàn về đọc sách của Chu Quang Tiềm để có lí lẽ về chuyện đọc ít mà kĩ.
- Liên hệ bản thân bằng một việc nhỏ cụ thể, như mỗi tối đọc hai mươi trang.
Muốn xem các bài viết hoàn chỉnh theo kiểu đề này, có thể tham khảo tuyển bài văn bàn về một hiện tượng xã hội lớp 10.
Mấy câu hỏi quanh chữ văn hóa
Văn hoá hay văn hóa, viết thế nào mới đúng?
Văn hoá hay văn hóa đều đúng. Đây chỉ là khác biệt về vị trí đặt dấu thanh (kiểu cũ đặt trên “a”, kiểu mới đặt trên “o”); nghĩa và cách đọc không đổi. Chỉ nên thống nhất một kiểu trong cùng một bài viết.
Văn hóa là gì theo UNESCO?
Theo Tuyên bố toàn cầu về đa dạng văn hóa năm 2001, văn hóa là tổng thể những nét đặc trưng về tinh thần, vật chất, trí tuệ, cảm xúc riêng của một xã hội hoặc một nhóm người sống chung, gồm cả lối sống, cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng, chứ không riêng văn học nghệ thuật.
Văn hóa và văn minh khác nhau thế nào?
Văn minh thường chỉ trình độ phát triển ở một giai đoạn, nặng về kĩ thuật và vật chất (văn minh lúa nước, văn minh công nghiệp). Văn hóa rộng hơn về thời gian, gắn với giá trị và bản sắc riêng của từng cộng đồng.
Nói một người “có văn hóa” là khen điều gì?
Trong giao tiếp hằng ngày, “có văn hóa” thường là khen người cư xử lịch sự, biết tôn trọng người khác và nơi công cộng, đôi khi kèm nghĩa có học. Đây là nghĩa hẹp, khác với nghĩa văn hóa là toàn bộ sáng tạo của cộng đồng.