Khái niệm là cách tư duy gom lại những đặc điểm chung, cốt lõi của cả một nhóm sự vật, hiện tượng, để ta gọi tên và tách nhóm đó khỏi nhóm khác. Nói gọn, khái niệm là “cái hiểu chung” về một loại đối tượng, còn từ ngữ là vỏ để chuyển cái hiểu ấy đi. Hỏi “khái niệm là gì, cho ví dụ” thì hình tam giác, danh từ, lòng biết ơn đều là những khái niệm.
| Nghĩa ngắn | Ý niệm tổng quát về những đặc điểm bản chất của một loại sự vật, hiện tượng |
| Gốc từ | Hán Việt 概念: khái (bao quát, đại khái) + niệm (ý nghĩ) |
| Thuộc | Logic học (hình thức cơ bản của tư duy, cùng với phán đoán và suy luận) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có nội hàm (các đặc điểm bản chất) và ngoại diên (các đối tượng thuộc về nó) |
| Tiếng Anh | concept |

Hiểu chữ khái niệm từ gốc Hán Việt đến logic học
Chữ khái (概) vốn chỉ cái que gạt cho mặt đấu thóc bằng phẳng, rồi nghĩa rộng ra là bao quát, tóm lại, như trong đại khái, khái quát. Chữ niệm (念) là ý nghĩ, điều nghĩ trong đầu, gặp lại trong ý niệm, quan niệm, kỉ niệm. Ghép lại, khái niệm là ý nghĩ đã được gạt cho phẳng, bỏ đi những chi tiết riêng lẻ, chỉ giữ cái chung. Các từ điển Hán Việt giảng ngắn gọn là “ý niệm tổng quát”.
Logic học đi thêm một bước. Ở đó, khái niệm là sản phẩm của các thao tác tư duy: so sánh nhiều đối tượng, tách ra cái giống nhau, gạt đi cái ngẫu nhiên rồi khái quát lại. Một đứa trẻ thấy con mèo mướp, con mèo đen, con mèo lông xù, dần dần hiểu “mèo” là gì mà không cần nhớ riêng từng con. Lúc ấy trong đầu nó đã có một khái niệm.
Cần tách khái niệm khỏi từ. Cùng một khái niệm có thể nói bằng nhiều từ khác nhau (mặt trời, vầng dương, tiếng Anh là sun), và một từ có thể chở nhiều khái niệm (chữ cầu vừa là cây cầu, vừa là quả cầu). Đây cũng là lí do phần đơn vị từ trong tiếng Việt và phần khái niệm thường được học gần nhau.
Nội hàm và ngoại diên: hai mặt để nhận ra một khái niệm
Muốn biết mình đã nắm một khái niệm hay chưa, hãy thử trả lời hai câu: nó gồm những đặc điểm gì, và những đối tượng nào thuộc về nó.
- Nội hàm là tập hợp các đặc điểm bản chất. Nội hàm của hình vuông: tứ giác, bốn cạnh bằng nhau, bốn góc vuông.
- Ngoại diên là toàn bộ những đối tượng mang đủ các đặc điểm ấy. Ngoại diên của hình vuông là mọi hình vuông, to nhỏ thế nào cũng được.
Hai mặt này đi ngược chiều nhau. Thêm đặc điểm vào nội hàm thì ngoại diên co lại: học sinh rộng hơn học sinh lớp 9, và học sinh lớp 9 lại rộng hơn học sinh lớp 9 ở Huế. Bớt đặc điểm thì ngoại diên nở ra. Người học logic gọi đó là thu hẹp và mở rộng khái niệm.
Một mẹo nhỏ để kiểm: đặc điểm bản chất là đặc điểm mà thiếu nó thì đối tượng không còn thuộc khái niệm nữa. Màu sắc không nằm trong nội hàm của hình vuông, vì hình vuông màu đỏ hay màu xanh vẫn là hình vuông. Nhưng bỏ đi “bốn góc vuông” thì ta có hình thoi chứ không còn hình vuông.
Khái niệm cụ thể, trừu tượng và những cặp hay gặp khi học
| Cách chia | Hai loại | Ví dụ |
|---|---|---|
| Theo đối tượng phản ánh | Cụ thể (chỉ sự vật có thật) – trừu tượng (chỉ thuộc tính, quan hệ tách khỏi sự vật) | cái bàn, dòng sông – lòng dũng cảm, tự do |
| Theo số lượng ngoại diên | Đơn nhất (chỉ một đối tượng) – chung (nhiều đối tượng) | thủ đô Hà Nội – thành phố |
| Theo nội hàm | Khẳng định – phủ định | hợp lệ – không hợp lệ |
Với học sinh, cặp cụ thể – trừu tượng là cặp dùng nhiều nhất, vì đề nghị luận xã hội thường xoay quanh các khái niệm trừu tượng như trách nhiệm, hạnh phúc, lòng tự trọng. Muốn hiểu thêm vì sao những khái niệm ấy khó nắm, có thể đọc bài giải nghĩa chữ trừu tượng.
Khái niệm khác định nghĩa ở chỗ nào?
Hai từ này hay bị dùng như nhau, nhưng thật ra chúng ở hai tầng khác nhau. Khái niệm là cái hiểu nằm trong đầu. Định nghĩa là câu phát biểu ra để chỉ rõ cái hiểu ấy gồm những đặc điểm nào. Công thức quen thuộc nhất là “loài gần nhất + đặc điểm riêng”: Hình vuông là hình chữ nhật có bốn cạnh bằng nhau. Ở đây hình chữ nhật là loài gần nhất, bốn cạnh bằng nhau là đặc điểm riêng.
Một định nghĩa tốt phải đạt mấy điều kiện mà sách logic nào cũng nêu:
- Không rộng quá, không hẹp quá: phần định nghĩa phải vừa khít với khái niệm.
- Không vòng quanh: không dùng chính khái niệm cần định nghĩa để giải thích nó.
- Rõ ràng, không dùng hình ảnh ví von thay cho đặc điểm.
- Hạn chế câu phủ định, vì nói cái gì không phải thường chưa cho biết nó là gì.
Câu “Tình yêu là ngọn lửa” rất hay trong thơ nhưng không phải là định nghĩa, vì nó ví von chứ không chỉ ra đặc điểm bản chất.
Khái niệm xuất hiện trong bài văn và sách giáo khoa ra sao?
Trong môn Ngữ văn, khái niệm hiện diện ở hai chỗ. Chỗ thứ nhất là kiến thức: các mục “Tri thức Ngữ văn” ở đầu mỗi bài học thực chất là một chuỗi khái niệm (thơ lục bát, nhân vật, văn bản thông tin…) kèm lời định nghĩa ngắn. Học sinh thuộc lời định nghĩa chưa đủ; phải nhận ra được nội hàm của nó trong văn bản thật. Các trang ôn tập cuối kì, như phần hệ thống kiến thức học kì I Ngữ văn 6, thực chất là bảng tổng hợp những khái niệm đã học.
Chỗ thứ hai là bài viết. Đề nghị luận về một tư tưởng, đạo lí gần như luôn bắt đầu bằng thao tác giải thích. Ví dụ đề bàn về lòng biết ơn, đoạn đầu thân bài cần làm rõ: biết ơn là ghi nhớ và đền đáp điều tốt người khác dành cho mình. Câu ấy chính là phần nội hàm. Sau đó mới nêu biểu hiện (ngoại diên: biết ơn cha mẹ, thầy cô, người đi trước…). Cách triển khai này có trong bài mẫu nghị luận về tư tưởng đạo lí lớp 8; còn các thao tác chung thì xem bài các thao tác của văn nghị luận. Dấu hiệu nhận ra đề, ví dụ và bài tập về dạng này có ở bài tư tưởng đạo lí là gì.
Thử sức: bốn câu luyện tập về khái niệm
Câu 1: Nêu nội hàm và ngoại diên của khái niệm “số chẵn”.
Đáp án: Nội hàm: số nguyên chia hết cho 2. Ngoại diên: tất cả các số 0, 2, 4, 6… và cả −2, −4… Ai nói “nội hàm là số 2, số 4” là đã lẫn hai mặt: số cụ thể thuộc ngoại diên, còn đặc điểm “chia hết cho 2” mới là nội hàm.
Câu 2: Sắp xếp các khái niệm sau theo ngoại diên từ rộng đến hẹp: thơ lục bát, văn bản, tác phẩm thơ, văn bản văn học.
Đáp án: văn bản → văn bản văn học → tác phẩm thơ → thơ lục bát. Mỗi bước sang phải thêm một đặc điểm vào nội hàm, nên số đối tượng thuộc về nó ít đi.
Câu 3: Định nghĩa “Học sinh là người đi học” mắc lỗi gì?
Đáp án: Lỗi rộng quá. Sinh viên, học viên lớp tiếng Anh buổi tối cũng là người đi học nhưng không phải học sinh. Cần thêm đặc điểm riêng, chẳng hạn “người đang theo học ở bậc phổ thông”.
Câu 4: Trong hai câu sau, câu nào là định nghĩa khái niệm, câu nào chỉ là nhận xét? (a) Ẩn dụ là gọi tên sự vật này bằng tên sự vật khác có nét tương đồng. (b) Ẩn dụ làm câu văn hay hơn.
Đáp án: Câu (a) là định nghĩa, vì nó nêu đặc điểm bản chất giúp nhận ra mọi phép ẩn dụ. Câu (b) chỉ nói tác dụng; nhiều biện pháp khác cũng làm câu văn hay hơn, nên dựa vào câu (b) không thể nhận ra ẩn dụ.
Những điều học sinh hay hỏi về khái niệm
Khái niệm là gì trong triết học?
Triết học coi khái niệm là hình thức của nhận thức lí tính: con người đi từ cảm giác, tri giác về từng sự vật đến chỗ nắm được cái chung, cái bản chất. Ở đây khái niệm không đứng yên mà phát triển theo hiểu biết của con người; khái niệm “nguyên tử” thời cổ khác hẳn khái niệm “nguyên tử” của vật lí hiện đại.
Khái niệm và định nghĩa có giống nhau không?
Không. Khái niệm là cái hiểu về một loại đối tượng; định nghĩa là câu phát biểu làm rõ cái hiểu ấy. Một khái niệm có thể có nhiều cách định nghĩa, miễn là đúng nội hàm.
Khái niệm tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là concept. Trong văn bản học thuật còn gặp notion, thường dùng cho ý niệm chung, ít chặt chẽ hơn.
Làm sao giải thích một khái niệm trong bài nghị luận cho gọn?
Dùng một câu “X là…” nêu đặc điểm bản chất, rồi thêm một câu nói X khác gì với từ gần nghĩa. Ví dụ: “Tự tin là tin vào khả năng của mình; khác với tự cao, người tự tin vẫn biết mình còn thiếu sót.”