Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ vừa có nghĩa vừa được dùng để đặt câu. “Nhà”, “chạy”, “xe đạp”, “lấp lánh” đều là từ. Bài này đi từ khái niệm từ là gì lớp 6, cách phân biệt tiếng với từ, các kiểu cấu tạo, đến câu hỏi nghĩa của từ là gì và cách giải thích nghĩa khi làm bài.
| Khái niệm | Đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất có nghĩa, dùng để đặt câu |
| Nghĩa của từ | Nội dung (sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ…) mà từ biểu thị |
| Cấu tạo | Từ đơn (một tiếng) · từ phức (hai tiếng trở lên), gồm từ ghép và từ láy |
| Dấu hiệu nhận biết | Mang nghĩa ổn định, chen thêm chữ vào giữa thì nghĩa đổi hoặc vỡ |

Từ trong tiếng Việt được định nghĩa thế nào?
Sách Ngữ văn 6 chương trình cũ, bài “Từ và cấu tạo của từ tiếng Việt”, nêu ngắn gọn: từ là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất dùng để đặt câu. Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên nói kỹ hơn một chút, nhấn vào hai điều: từ có nghĩa hoàn chỉnh và có cấu tạo ổn định.
Hai chữ “nhỏ nhất” và “đặt câu” phải đi cùng nhau. Đơn vị nhỏ hơn từ là tiếng, nhưng ta không ghép câu bằng tiếng rời mà bằng từ. Đơn vị lớn hơn từ là cụm từ và câu. Cụm từ như “chiếc xe đạp mới” cũng dùng để đặt câu, có điều nó gồm nhiều từ, nên không còn là đơn vị nhỏ nhất. Nếu muốn đi tiếp lên tầng này, có bài riêng về cụm danh từ và mô hình ba phần.
Chữ “từ” còn mấy nghĩa khác trong đời thường: từ trong “từ nhà đến trường” (chỉ điểm xuất phát), từ trong “từ chức” (thôi, bỏ), từ trong “nam châm hút từ”. Bài này chỉ bàn nghĩa ngữ pháp, tức từ như một đơn vị của tiếng nói.
Tiếng và từ: đếm sao cho đúng
Học sinh lớp 4, lớp 6 hay bị hỏi: câu này có bao nhiêu tiếng, bao nhiêu từ? Hai con số thường khác nhau, vì một từ có thể chứa một hay nhiều tiếng.
| Tiêu chí | Tiếng | Từ |
|---|---|---|
| Bản chất | Đơn vị phát âm, nói ra là một hơi, viết ra là một chữ cách | Đơn vị mang nghĩa, dùng để đặt câu |
| Có nghĩa không | Có tiếng có nghĩa (nhà), có tiếng không (lánh trong “lấp lánh”) | Luôn có nghĩa |
| Chức năng | Cấu tạo nên từ | Cấu tạo nên câu |
| Ví dụ | “Học sinh” có 2 tiếng: học, sinh | “Học sinh” là 1 từ |
Lấy câu “Em mang chiếc cặp sách mới đến trường.” Câu có 8 tiếng. Tách từ thì được: em / mang / chiếc / cặp sách / mới / đến / trường, tức 7 từ, vì “cặp sách” gọi tên một đồ vật cụ thể. Đếm tiếng chỉ cần nhìn khoảng trắng; đếm từ thì phải hiểu nghĩa.
Ba phép thử để tách từ trong câu
Ranh giới giữa từ ghép và cụm từ tự do không phải lúc nào cũng rõ. Ba cách sau giúp quyết định nhanh:
- Chen chữ vào giữa. “Xe đạp” không chen được “xe của đạp”, “xe mà đạp” mà vẫn giữ nghĩa cũ: đó là một từ. “Áo mới” chen được thành “áo rất mới”, “áo còn mới”: đó là hai từ.
- Xem nghĩa có “dính” lại không. “Bánh mì” không có nghĩa là “bánh nào làm bằng bột mì” nói chung, nó gọi tên một loại bánh cụ thể. Khi nghĩa chung khác với cộng nghĩa từng tiếng, đó thường là một từ.
- Thử tách ra dùng riêng. Tiếng nào không đứng một mình được (như lánh, lẽo trong “lạnh lẽo”) thì chắc chắn chỉ là một phần của từ.
Không phép thử nào đúng trăm phần trăm. Khi các sách giải khác nhau, cứ theo cách tách mà giáo viên và sách đang học dùng. Dạng bài đếm tiếng, phân loại từ cũng hay có mặt trong đề cuối kì, ví dụ phần tiếng Việt của đề ôn cuối kì I Văn 6 sách Chân trời.
Từ đơn, từ phức và hai nhánh ghép, láy
Xét theo số tiếng, từ tiếng Việt chia hai lớp lớn.
- Từ đơn chỉ có một tiếng: mẹ, cây, ăn, xanh, và.
- Từ phức có từ hai tiếng trở lên. Lớp này lại tách đôi:
- Từ ghép: các tiếng có quan hệ về nghĩa, ví dụ quần áo, xe máy, nhà cửa, hoa hồng. Muốn đi sâu vào hai kiểu chính phụ và đẳng lập, xem cách phân biệt từ ghép chính phụ với đẳng lập.
- Từ láy: các tiếng lặp lại âm, vần hoặc cả tiếng, ví dụ xanh xanh, lấp lánh, lom khom. Dấu hiệu và các kiểu láy có trong bài giải nghĩa từ láy kèm bài tập.
Một bẫy quen: “tươi tốt” và “tươi tắn” đều lặp âm đầu t, nhưng “tươi tốt” là từ ghép vì tốt tự có nghĩa, còn “tươi tắn” là từ láy vì tắn đứng riêng chẳng nghĩa gì. Phải nhìn quan hệ giữa các tiếng là nghĩa hay chỉ là âm. Bản tổng hợp chi tiết hơn về từ đơn, từ phức nằm ở bài tổng hợp về cấu tạo từ.
Nghĩa của từ là gì: nghĩa gốc, nghĩa chuyển và cách giải nghĩa?
Mỗi từ có hai mặt: hình thức (âm thanh, chữ viết) và nội dung. Sách Ngữ văn 6 gọi phần nội dung ấy là nghĩa của từ: cái sự vật, hoạt động, tính chất hay quan hệ mà từ biểu thị. Nhìn vào chú thích dưới văn bản đọc hiểu là thấy ngay: vế trước dấu hai chấm là từ, vế sau là nghĩa.
Có hai cách giải thích nghĩa hay dùng trong bài tập:
- Nêu khái niệm mà từ biểu thị. “Thước kẻ: dụng cụ thẳng, dài, dùng để kẻ đường thẳng và đo độ dài.”
- Đưa ra từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa. “Siêng năng: chăm chỉ, trái với lười biếng.” Nhóm từ cùng nghĩa được trình bày kỹ ở bài về từ đồng nghĩa và các kiểu đồng nghĩa.
Nhiều từ có hơn một nghĩa. Nghĩa xuất hiện trước, làm cơ sở cho các nghĩa khác, gọi là nghĩa gốc; nghĩa hình thành sau trên nền nghĩa gốc gọi là nghĩa chuyển. Chữ mắt là ví dụ dễ nhớ:
| Câu | Nghĩa của “mắt” | Loại nghĩa |
|---|---|---|
| Em dụi mắt vì buồn ngủ. | Bộ phận để nhìn của người, động vật | Gốc |
| Quả na đã mở mắt. | Những ô nhỏ trên vỏ quả | Chuyển |
| Mắt lưới bị rách một chỗ. | Lỗ nhỏ giữa các sợi đan | Chuyển |
Các nghĩa chuyển vẫn giữ nét giống nghĩa gốc: hình tròn nhỏ, nằm trên bề mặt. Sách Tiếng Việt 5 mới học kỹ hiện tượng này với tên từ đa nghĩa, có bài thực hành trong bài Mầm non lớp 5 về từ nhiều nghĩa.
Tách từ và đọc nghĩa trong hai câu thơ Hồ Xuân Hương
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Hai câu mở đầu bài Bánh trôi nước có 14 tiếng. Tách từ, dòng đầu gồm: thân / em / vừa / trắng / lại / vừa / tròn, toàn từ đơn. Dòng sau có “bảy nổi ba chìm” là thành ngữ, thường được coi như một khối nghĩa, và “nước non” là từ ghép đẳng lập.
Chỗ đáng chú ý nằm ở nghĩa. “Trắng”, “tròn” nghĩa gốc là màu và hình của chiếc bánh; đặt vào giọng người phụ nữ, chúng gợi thêm vẻ đẹp trong trẻo, đầy đặn. “Nước non” nghĩa gốc là nước và núi; ở đây nó được hiểu rộng ra là cuộc đời, thời thế. “Nổi”, “chìm” vốn là cái bánh trồi lên rồi lặn xuống khi luộc, nay thành nỗi long đong của thân phận. Cùng một con chữ, đọc ra hai tầng nghĩa: đó chính là lúc hiểu nghĩa của từ giúp ta đọc thơ.
Luyện tập: tách từ và giải nghĩa
Câu 1: Câu “Bà ngoại em trồng một vườn rau xanh mướt.” có bao nhiêu tiếng, bao nhiêu từ?
Đáp án: 9 tiếng. Tách từ: bà ngoại / em / trồng / một / vườn / rau / xanh mướt, tức 7 từ. “Bà ngoại” là từ ghép chính phụ, “xanh mướt” cũng là từ ghép (tiếng mướt bổ sung sắc thái cho xanh).
Câu 2: Xếp các từ sau vào ba nhóm từ đơn, từ ghép, từ láy: sách, sông núi, long lanh, chạy, bàn học, rì rào.
Đáp án: Từ đơn: sách, chạy. Từ ghép: sông núi, bàn học. Từ láy: long lanh, rì rào.
Câu 3: Giải thích nghĩa của từ “trung thực” bằng hai cách khác nhau.
Đáp án: Cách 1, nêu khái niệm: ngay thẳng, nói đúng sự thật, không gian dối. Cách 2, dùng từ đồng nghĩa và trái nghĩa: thật thà, thẳng thắn; trái với dối trá.
Câu 4: Từ “chân” trong câu nào dùng nghĩa gốc? a) Chân bàn bị lung lay. b) Em bị đau chân sau buổi chạy. c) Ngôi nhà nằm dưới chân đồi.
Đáp án: Câu b. Ở đó chân là bộ phận dưới cùng của cơ thể người, dùng để đi, đứng. Câu a và c là nghĩa chuyển: bộ phận dưới cùng của đồ vật, phần thấp nhất của quả đồi.
Những thắc mắc quanh khái niệm từ và nghĩa của từ
Từ là gì lớp 6, học thuộc thế nào cho nhanh?
Nhớ một câu: từ là đơn vị nhỏ nhất dùng để đặt câu. Rồi nhớ sơ đồ hai nhánh: từ đơn một tiếng, từ phức hai tiếng trở lên; từ phức gồm từ ghép (quan hệ nghĩa) và từ láy (quan hệ âm).
Nghĩa của từ là gì?
Là nội dung mà từ biểu thị: sự vật, hoạt động, tính chất, quan hệ. Có thể giải thích nghĩa bằng cách nêu khái niệm hoặc bằng từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Một từ có thể có nghĩa gốc và một hay nhiều nghĩa chuyển.
Tiếng và từ khác nhau thế nào?
Tiếng là đơn vị phát âm và dùng để cấu tạo từ; có tiếng không mang nghĩa. Từ luôn có nghĩa và dùng để đặt câu. Một từ đơn trùng với một tiếng, còn từ phức gồm nhiều tiếng.
Từ đơn và từ phức phân biệt bằng cách nào?
Đếm số tiếng tạo thành từ: một tiếng là từ đơn, từ hai tiếng trở lên là từ phức. Cần tách từ trước rồi mới đếm, kẻo nhầm cụm từ tự do với từ phức.