Nội hàm là toàn bộ những dấu hiệu, thuộc tính bản chất chứa bên trong một khái niệm, nhờ đó ta nhận ra đối tượng nào thuộc về khái niệm ấy. Đây là thuật ngữ của logic học, đi thành cặp với ngoại diên. Ra khỏi sách logic, người ta còn nói “nội hàm của một chính sách”, “người có nội hàm”, với nghĩa phần cốt lõi, chiều sâu bên trong.
| Nghĩa ngắn | Tập hợp các thuộc tính bản chất mà một khái niệm phản ánh |
| Gốc từ | Hán Việt 內涵: nội (bên trong) + hàm (chứa, bao hàm) |
| Loại từ | Danh từ |
| Đi cặp với | Ngoại diên (phạm vi các đối tượng mà khái niệm bao quát) |
| Tiếng Anh | intension; nghĩa rộng gần với connotation |

Nội hàm: cái nằm bên trong một khái niệm
Lấy khái niệm chim. Nếu hỏi “thế nào thì gọi là chim”, ta sẽ kể ra mấy đặc điểm: động vật có xương sống, mình phủ lông vũ, có mỏ, đẻ trứng. Danh sách đặc điểm ấy chính là nội hàm của khái niệm chim. Còn chim sẻ, chim cánh cụt, đà điểu, tất cả những con vật mang đủ các đặc điểm đó, hợp lại thành ngoại diên của nó.
Giáo trình logic nào cũng nhấn vào hai chữ “bản chất”. Biết bay không nằm trong nội hàm của chim, vì đà điểu không bay mà vẫn là chim. Muốn thử một đặc điểm có thuộc nội hàm hay không, hãy bỏ nó đi rồi xem đối tượng còn thuộc khái niệm nữa không.
Nội hàm và ngoại diên có quan hệ ngược chiều. Thêm dấu hiệu vào nội hàm thì ngoại diên hẹp lại: phương tiện giao thông rộng hơn phương tiện giao thông đường bộ, cái sau lại rộng hơn xe máy điện. Bớt dấu hiệu thì ngoại diên nở ra. Toàn bộ khung lí thuyết này được trình bày cùng các kiểu khái niệm ở bài khái niệm và các thao tác tư duy cơ bản.
Ngoài logic, chữ này được dùng rộng hơn. “Nội hàm của khái niệm phát triển bền vững”, “làm rõ nội hàm của cụm từ chuyển đổi số”: ở đây nội hàm là những gì cụm từ thực sự bao gồm, tách khỏi cái vỏ chữ nghe hay.
Nội hàm, ngoại diên, nội dung và hàm ý
| Từ | Trả lời câu hỏi | Ví dụ với khái niệm “học sinh” |
|---|---|---|
| Nội hàm | Gồm những đặc điểm bản chất nào? | Người đang theo học ở bậc phổ thông |
| Ngoại diên | Áp dụng cho những đối tượng nào? | Mọi em đang học từ lớp 1 đến lớp 12 |
| Nội dung | Bên trong có những gì (nói chung)? | Nội dung buổi họp phụ huynh học sinh |
| Hàm ý | Câu nói ngầm gửi thêm điều gì? | “Con học sinh mà về muộn thế à?” ngầm trách |
Nội dung là từ phổ thông, dùng cho mọi thứ có “phần ruột”: nội dung bài học, nội dung cuộc họp. Nội hàm hẹp và chặt hơn, chỉ phần đặc điểm cốt lõi làm nên một khái niệm. Viết “nội hàm cuộc họp” là dùng sai chỗ. Hàm ý thì thuộc chuyện câu chữ: nghĩa không nói ra mà người nghe phải suy. Gần hơn với chữ hàm ý là hàm súc, tức lời ít mà ý nhiều, được giảng kĩ ở bài tính hàm súc trong thơ trung đại. Trái với nội hàm theo nghĩa logic chính là ngoại diên; theo nghĩa đời thường thì là “vỏ ngoài”, “hình thức”.
Chữ 內涵 và lối nói “người có nội hàm”
Chữ nội (內) là bên trong, như trong nội tâm, nội bộ. Chữ hàm (涵) nghĩa gốc là chứa, ngấm, dung nạp; nó có mặt trong bao hàm, hàm súc, hàm dưỡng. Ghép lại, nội hàm là cái được chứa ở bên trong. Lưu ý chữ hàm này khác chữ hàm 含 trong hàm ý, hàm nghĩa, dù hai chữ gần nghĩa và cùng âm đọc.
Tiếng Trung dùng 內涵 vừa cho nghĩa logic, vừa cho nghĩa chiều sâu tính cách của một người. Lối nói “người có nội hàm” mà giới trẻ Việt dùng gần với nghĩa thứ hai ấy: người không phô trương, nói chuyện có chiều sâu, càng quen càng thấy nhiều điều đáng nể. Nói kiểu này chấp nhận được trong trò chuyện. Vào bài văn thì nên đổi sang cách nói Việt hơn như “người có chiều sâu”, “người có vốn sống”.
Làm rõ nội hàm khi viết văn nghị luận
Đề nghị luận xã hội gần như luôn đòi một đoạn giải thích. Thao tác ấy chính là làm rõ nội hàm của từ khóa trong đề. Lấy đề bàn về lòng tự trọng:
- Nêu nội hàm: tự trọng là biết coi trọng phẩm giá của mình, không làm điều khiến bản thân phải hổ thẹn.
- Gạt cái không thuộc nội hàm: tự trọng không phải sĩ diện, không phải giữ thể diện bằng mọi giá.
- Chỉ ra ngoại diên bằng biểu hiện: tự làm bài thi, dám nhận lỗi, không nhận món quà mang tính mua chuộc.
Câu giải thích tốt thường theo khuôn “loài gần nhất cộng đặc điểm riêng”, cách viết được bàn ở bài cấu trúc của một câu định nghĩa. Lỗi hay gặp nhất là giải thích bằng ví von: “Tự trọng là ngọn đèn soi đường” nghe hay nhưng chưa nói được nội hàm nào cả.
Nội hàm trong giờ logic, trong bài văn và ngoài đời
Nội hàm của khái niệm là gì?
Là tổng thể các dấu hiệu bản chất mà khái niệm phản ánh. Nội hàm của “tam giác” là hình phẳng có ba cạnh, ba góc; đủ mấy dấu hiệu ấy thì là tam giác, thiếu một thì không.
Người có nội hàm là người thế nào?
Là người có chiều sâu bên trong: hiểu biết, có quan điểm riêng, cư xử điềm đạm, không cần phô ra để người khác chú ý. Đây là cách nói khẩu ngữ, gần với “người sâu sắc”.
Nội hàm và ngoại diên khác nhau thế nào?
Nội hàm trả lời “khái niệm gồm những đặc điểm gì”, ngoại diên trả lời “khái niệm áp dụng cho những đối tượng nào”. Nội hàm càng nhiều dấu hiệu thì ngoại diên càng hẹp, và ngược lại.
Nội hàm tiếng Anh là gì?
Trong logic học, nội hàm là intension (viết với chữ s, khác intention là ý định), còn ngoại diên là extension. Khi nói về ý nghĩa ngầm chứa của một từ, tiếng Anh hay dùng connotation.