Trừu tượng là tính từ chỉ cái không nhìn thấy, không sờ được, chỉ nắm bắt được bằng tư duy, như hạnh phúc, công bằng, thời gian; trái với cụ thể. Trong lời nói hằng ngày, “trừu tượng quá” còn có nghĩa là khó hiểu, khó hình dung. Còn trừu tượng hóa là thao tác rút ra cái chung từ nhiều sự vật riêng lẻ.
| Nghĩa ngắn | (1) Được khái quát trong tư duy, không gắn với một vật cụ thể; (2) khó hiểu, khó hình dung |
| Gốc từ | Hán Việt 抽象: trừu (rút ra) + tượng (hình tượng) |
| Loại từ | Tính từ; “trừu tượng hóa” là động từ |
| Trái nghĩa | Cụ thể, hữu hình |

Hai nét nghĩa của chữ trừu tượng
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) tách từ này thành hai nghĩa. Nghĩa thứ nhất mang tính học thuật: có được nhờ khái quát hóa trong tư duy, dựa trên thuộc tính và quan hệ của sự vật, phân biệt với cụ thể. Từ điển đưa ví dụ màu sắc, mùi vị là những khái niệm trừu tượng. Nghĩa là: không ai cầm được “màu sắc” trong tay, ta chỉ cầm được quả cam màu cam, chiếc lá màu xanh.
Nghĩa thứ hai gần với đời thường hơn: khó hiểu, khó hình dung vì không có gì cụ thể. Ví dụ:
- Cô giải thích phép chia phân số hơi trừu tượng, cả lớp phải xin thêm ví dụ.
- Bức tranh trừu tượng ấy chỉ toàn mảng màu, không có người hay cảnh nào.
- Ước mơ “sống tốt” nghe còn trừu tượng; hãy viết ra ba việc cụ thể em sẽ làm.
Câu đầu dùng nghĩa thứ hai (khó hiểu). Câu thứ hai nói về một trường phái hội họa: tranh không vẽ hình dáng của vật thật mà dùng màu, đường nét, mảng khối. Câu thứ ba cho thấy hai nghĩa nhiều khi trùng nhau: cái càng chung chung thì càng khó hình dung.
抽象: rút cái hình ra khỏi sự vật
Chữ trừu (抽) có bộ thủ 扌 (tay). Thiều Chửu giảng là kéo ra, rút ra, trích lấy một phần trong cả bộ; ta còn gặp nó trong trừu tiêm (rút thẻ). Chữ tượng (象) vốn là con voi, sau có nghĩa hình trạng, hình tượng, như trong hình tượng, hiện tượng, ấn tượng, khí tượng.
Ghép lại, trừu tượng là “rút cái tượng ra”: từ nhiều quả cam, nhiều bông hoa, nhiều tấm vải, trí óc rút ra một nét chung là “màu cam”, bỏ lại hết phần còn lại. Hình ảnh chiết tự này khớp khá đúng với cách tiếng Anh tạo từ abstract, gốc Latin có nghĩa là “kéo ra khỏi”.
Trừu tượng hóa là gì?
Trừu tượng hóa là thao tác tư duy: giữ lại nét chung, bản chất của nhiều sự vật và gạt bỏ những chi tiết riêng không cần thiết. Nó thường đi đôi với khái quát hóa. Học sinh làm việc này hằng ngày mà không gọi tên:
- Thấy ba quả táo, ba cái ghế, ba bạn học, rồi hiểu ra con số 3. Con số là một khái niệm trừu tượng.
- Đọc nhiều bài thơ có so sánh ngầm, rồi rút ra khái niệm “ẩn dụ”.
- Vẽ bản đồ chỉ giữ đường, sông, tên phố; bỏ cây cối, màu mái nhà.
Người có tư duy trừu tượng tốt làm việc được với những khái niệm như thế, không cần vật thật trước mắt. Môn triết học là nơi thao tác này được dùng nhiều nhất; đọc thêm ở bài giải thích môn học về các quy luật chung nhất. Còn các bước từ cảm giác đến khái niệm được nói kĩ trong bài quá trình con người hiểu biết thế giới.
Trừu tượng, cụ thể và mấy từ hay bị dùng lẫn
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Trừu tượng | Không gắn với vật cụ thể, chỉ nắm được bằng tư duy | Tự do, lòng tốt, thời gian |
| Cụ thể | Có hình, có thể nhìn, nghe, chạm, đo được | Cái bàn, tiếng còi, mùi khói bếp |
| Mơ hồ | Không rõ ràng, lờ mờ (có thể là vật cụ thể nhưng nhìn không rõ) | Bóng người mơ hồ trong sương |
| Chung chung | Nói không rõ ý, thiếu chi tiết; thường là lời chê | Bài văn chung chung, thiếu dẫn chứng |
“Trừu tượng” không phải lời chê. Toán học, triết học sống được là nhờ khái niệm trừu tượng. Chỉ khi cái trừu tượng làm người nghe không hiểu, ta mới nói “trừu tượng quá” theo nghĩa phàn nàn. Còn “mơ hồ” và “chung chung” thì gần như luôn mang ý chưa tốt.
Danh từ trừu tượng và cách thơ biến nó thành hình ảnh
Trong ngữ pháp, danh từ được chia thành danh từ chỉ vật cụ thể (bàn, sông, mẹ) và danh từ chỉ khái niệm, hay danh từ trừu tượng (niềm vui, nỗi buồn, tư tưởng, hạnh phúc). Danh từ trừu tượng thường đi với các từ như niềm, nỗi, sự, cuộc, lòng. Phân biệt rõ hai nhóm danh từ này được nói trong bài từ chỉ sự vật và cách nhận biết.
Văn chương có một việc quen: làm cho cái trừu tượng hiện ra như thật. Ca dao viết “Nhớ ai bổi hổi bồi hồi / Như đứng đống lửa như ngồi đống than” (có bản chép “đống rơm”): nỗi nhớ không ai thấy được, qua phép so sánh thành cái nóng rát có thể cảm bằng da thịt. Cùng làm việc ấy còn có phép ẩn dụ trong thơ ca, chỉ khác là vế được so sánh bị giấu đi.
Gỡ rối nhanh về từ trừu tượng
Trừu tượng hóa là gì, khác khái quát hóa thế nào?
Trừu tượng hóa là tách ra và giữ lại một thuộc tính, gạt bỏ phần còn lại. Khái quát hóa là gom nhiều sự vật có chung thuộc tính ấy vào một nhóm. Hai thao tác thường đi liền: tách ra “biết bay”, rồi gom chim, dơi, máy bay thành “những vật biết bay”.
Tư duy trừu tượng là gì?
Là khả năng suy nghĩ bằng khái niệm, con số, quy luật mà không cần vật thật trước mắt. Giải phương trình, hiểu một câu tục ngữ, đoán ý nghĩa một biểu tượng trong truyện đều cần tư duy trừu tượng.
Tranh trừu tượng là gì?
Là tranh không mô tả người, vật, cảnh có thật mà dùng màu sắc, đường nét, mảng khối để gợi cảm xúc hay ý tưởng. Người xem không cần hỏi “vẽ cái gì”, mà hỏi “bức tranh gợi cho mình điều gì”.
Trừu tượng tiếng Anh là gì?
Là abstract (tính từ). Trừu tượng hóa là abstraction hoặc động từ to abstract; danh từ trừu tượng là abstract noun; tranh trừu tượng là abstract art.