Phương tiện phi ngôn ngữ là những thứ dùng để truyền thông tin, cảm xúc mà không phải là lời nói hay chữ viết: trong văn bản thì có hình ảnh, sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ, số liệu, kí hiệu; khi nói chuyện trực tiếp thì có nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ. Sách Ngữ văn còn gọi chúng là phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ, và chúng luôn đi cùng, bổ sung cho phần lời.
| Khái niệm | Phương tiện truyền đạt thông tin, cảm xúc không dùng lời nói, chữ viết |
| Nghĩa chữ “phi” | 非: không phải; phi ngôn ngữ là “không phải ngôn ngữ” |
| Thuộc | Kiến thức tiếng Việt về giao tiếp và đọc hiểu văn bản thông tin |
| Dấu hiệu nhận biết | Bỏ hết chữ đi mà nó vẫn còn mang được một phần thông tin |
| Học ở | Ngữ văn 7 (văn bản thông tin), Ngữ văn 10 (thực hành tiếng Việt) |

Phương tiện phi ngôn ngữ là gì?
Thử hình dung một tấm bản đồ chỉ đường vào vườn quốc gia: con đường vẽ bằng nét đậm, mũi tên chỉ hướng, một hình bông hoa đánh dấu chỗ ngắm cảnh, vài dòng chữ ghi tên điểm đến. Bỏ hết chữ đi, người xem vẫn đoán được đi lối nào. Phần còn lại sau khi bỏ chữ ấy chính là phương tiện phi ngôn ngữ.
Trong phần kiến thức ngữ văn của sách Ngữ văn 7 bộ Cánh diều (tập hai), các phương tiện như tranh, ảnh, hình vẽ, sơ đồ, bảng biểu, kí hiệu được giới thiệu là thứ người viết phối hợp với lời văn để cung cấp thông tin, trong đó tranh và ảnh được dùng nhiều hơn cả. Lên Ngữ văn 10 bộ Kết nối tri thức (tập hai), học sinh có hẳn một phần thực hành tiếng Việt về cách sử dụng phương tiện phi ngôn ngữ, đi sau văn bản thông tin về tầng ozone.
Chữ phi (非) trong Hán Việt là “không phải”, như phi lí, phi thường, phi pháp. Vậy phi ngôn ngữ nghĩa đen là “không phải ngôn ngữ”, tức không phải từ ngữ, câu chữ. Còn ngôn ngữ theo nghĩa hệ thống từ và câu là phần lời mà phương tiện phi ngôn ngữ đi kèm.
Hai nhóm: trên trang giấy và trên gương mặt
| Nhóm | Gồm những gì | Hay gặp ở đâu |
|---|---|---|
| Trong văn bản (đọc bằng mắt) | Hình ảnh, tranh vẽ, sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ, số liệu, kí hiệu, biểu tượng | Văn bản thông tin, sách giáo khoa, áp phích, bản tin, đồ họa thông tin |
| Trong giao tiếp trực tiếp (đi kèm lời nói) | Nét mặt, ánh mắt, cử chỉ tay, điệu bộ, tư thế, khoảng cách đứng | Trò chuyện, thuyết trình, diễn kịch, phỏng vấn |
Một số tài liệu tách nhỏ hơn: có loại tự mang trọn ý (một cái lắc đầu là “không”), có loại chỉ tô đậm cho lời (vừa nói “ở đằng kia” vừa chỉ tay); có loại tự nhiên như đỏ mặt khi ngượng, có loại do quy ước như biển báo cấm rẽ. Giọng nói to nhỏ, nhanh chậm, ngừng nghỉ đôi khi cũng được xếp vào đây, vì cùng một câu mà đổi giọng thì nghĩa đã khác.
Biểu tượng cảm xúc trong tin nhắn là ví dụ rất gần với học sinh: chữ “ừ” kèm một mặt cười khác hẳn chữ “ừ” trơ trọi. Đó cũng là phương tiện phi ngôn ngữ, chỉ là chuyển từ gương mặt thật lên màn hình.
Bốn câu tự hỏi để nhận ra
- Nó có phải là chữ hay lời không? Nếu là từ, câu, đoạn văn thì đó là phương tiện ngôn ngữ. Hình, màu, nét vẽ, động tác thì thuộc phía phi ngôn ngữ.
- Nó có chở thông tin không? Một đường kẻ trang trí cho đẹp chưa chắc đã là phương tiện phi ngôn ngữ đáng kể; còn một mũi tên chỉ hướng, một cột biểu đồ cao thấp thì mang thông tin rõ ràng.
- Nó liên quan thế nào với phần lời? Thường là minh họa, cụ thể hóa, tóm tắt hoặc bổ sung cho lời. Đề bài hay hỏi đúng mối quan hệ này.
- Bỏ nó đi thì người đọc mất gì? Trả lời được câu này là đã gần xong ý “tác dụng”: thông tin kém trực quan, khó hình dung, khó so sánh, khó nhớ.
Riêng số liệu là chỗ nhiều bạn phân vân. Sách giáo khoa và các bài soạn thường xếp số liệu, nhất là số liệu trình bày thành bảng, biểu đồ, vào nhóm phi ngôn ngữ, vì nó cung cấp thông tin cụ thể, chính xác theo cách khác với câu văn.
Ba văn bản SGK và một trang truyện
Hình ảnh từng bước trong Cách gọt củ hoa thủy tiên
Văn bản hướng dẫn quy trình này (Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo) dùng hình minh họa đi theo các bước gọt củ. Lời văn nói cần cắt chỗ nào, hình cho thấy chỗ đó nằm ở đâu trên củ. Người đọc vừa đọc vừa nhìn nên làm theo dễ hơn hẳn. Câu hỏi về loại phương tiện này và tác dụng của nó có trong bài soạn văn bản hướng dẫn gọt củ thủy tiên.
Một bản đồ họa thông tin thay cho cả bài báo
Tổng kiểm soát phương tiện giao thông (Ngữ văn 7 Cánh diều) gần như là một văn bản bằng hình: hình các loại xe, cột, chấm tròn và con số, chữ chỉ còn làm nhan đề, chú thích. Kiểu văn bản này tập cho học sinh đọc kênh hình và chuyển thông tin từ hình sang lời, như trong bài soạn bản đồ họa về kiểm soát giao thông.
Lỗ thủng tầng ozone qua các năm
Văn bản Phục hồi tầng ozone (Ngữ văn 10) có hình mô phỏng độ lớn lỗ thủng ở Nam Cực qua nhiều năm. Đặt các hình cạnh nhau, người đọc thấy ngay lỗ thủng to lên rồi thu lại, điều mà viết thành câu sẽ dài và khô hơn nhiều. Đề bài hỏi đánh giá hiệu quả của hình này; xem gợi ý ở phần soạn văn bản về tầng ozone.
Cử chỉ của lão Hạc
Phương tiện phi ngôn ngữ không chỉ nằm trong văn bản thông tin. Trong truyện của Nam Cao, khi kể chuyện bán con chó Vàng, lão Hạc không nói được trọn câu: mặt lão co rúm lại, nước mắt chảy ra, đầu ngoẹo sang một bên, miệng mếu như trẻ con. Nhà văn tả lại chính những cử chỉ, nét mặt ấy, và người đọc hiểu nỗi đau của lão nhiều hơn mọi lời than. Đọc lại đoạn này trong bài soạn truyện Lão Hạc của Nam Cao.
Đặt cạnh phương tiện ngôn ngữ
| Tiêu chí | Phương tiện ngôn ngữ | Phương tiện phi ngôn ngữ |
|---|---|---|
| Chất liệu | Từ, câu, đoạn, lời nói | Hình, màu, nét vẽ, con số, động tác, nét mặt |
| Thế mạnh | Diễn đạt ý trừu tượng, lập luận, giải thích nguyên nhân | Trực quan, nhanh, dễ so sánh, gây ấn tượng |
| Giới hạn | Dài, khó hình dung khi tả hình dạng, số lượng | Dễ hiểu sai nếu thiếu chú thích |
| Ví dụ | Đoạn văn giải thích vì sao tầng ozone mỏng đi | Hình mô phỏng lỗ thủng qua các năm |
Hai loại phương tiện không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau. Một tấm áp phích cổ động là ví dụ gọn nhất: hình gây chú ý, khẩu hiệu bằng chữ chốt ý. Còn “ngôn ngữ cơ thể” chỉ là một phần của phương tiện phi ngôn ngữ, phần nằm ở cử chỉ và gương mặt, không bao gồm sơ đồ hay bảng biểu.
Luyện tập nhận biết và nêu tác dụng
Câu 1: Trong các yếu tố sau, đâu là phương tiện phi ngôn ngữ: nhan đề, biểu đồ cột, sa pô, ảnh chụp, đoạn trích dẫn, kí hiệu mũi tên?
Đáp án: Biểu đồ cột, ảnh chụp và kí hiệu mũi tên là phương tiện phi ngôn ngữ. Nhan đề, sa pô và đoạn trích dẫn đều là chữ, nên thuộc phương tiện ngôn ngữ.
Câu 2: Khi thuyết trình, bạn Minh vừa nói “Có ba lí do” vừa giơ ba ngón tay. Cử chỉ đó có tác dụng gì?
Đáp án: Cử chỉ giơ ba ngón tay là phương tiện phi ngôn ngữ bổ trợ cho lời nói. Nó nhấn mạnh số lượng ý, giúp người nghe theo dõi bố cục bài nói và nhớ rằng còn bao nhiêu ý sắp được trình bày.
Câu 3: Một bài báo viết “Lượng mưa tháng Bảy cao gấp đôi tháng Sáu” và đặt kèm biểu đồ lượng mưa sáu tháng. Biểu đồ quan hệ thế nào với câu văn?
Đáp án: Biểu đồ minh họa và mở rộng câu văn. Câu văn chỉ so hai tháng, còn biểu đồ cho thấy cả sáu tháng, người đọc tự so sánh được. Đây là quan hệ bổ sung: lời chốt ý quan trọng nhất, hình cung cấp bức tranh đầy đủ.
Câu 4: Tin nhắn “Ok” và tin nhắn “Ok” kèm biểu tượng mặt cười khác nhau ở đâu?
Đáp án tham khảo: Phần chữ giống nhau, nhưng biểu tượng mặt cười thêm sắc thái vui vẻ, thân thiện. Không có nó, chữ “Ok” có thể bị đọc là lạnh nhạt hoặc miễn cưỡng. Biểu tượng ở đây là phương tiện phi ngôn ngữ thể hiện thái độ.
Kênh hình, cử chỉ và những điều học sinh hay cần
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ là gì?
Là cách gọi đầy đủ của phương tiện phi ngôn ngữ, nhấn vào chức năng giao tiếp: dùng hình ảnh, kí hiệu, cử chỉ, nét mặt… để trao đổi thông tin và cảm xúc mà không cần lời. Hai cách gọi dùng thay nhau được.
Phương tiện phi ngôn ngữ gồm những gì?
Trong văn bản: hình ảnh, tranh vẽ, sơ đồ, bảng biểu, biểu đồ, số liệu, kí hiệu. Trong giao tiếp trực tiếp: nét mặt, ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, tư thế, khoảng cách giữa người nói và người nghe.
Tác dụng của phương tiện phi ngôn ngữ là gì?
Làm thông tin trực quan, cụ thể, dễ hình dung và dễ nhớ; giúp so sánh nhanh các số liệu; tăng sức hấp dẫn cho văn bản. Trong lời nói, nó bộc lộ cảm xúc, thái độ và nhấn mạnh ý. Khi trả lời đề, nên gắn tác dụng với nội dung cụ thể của văn bản thay vì chép một danh sách chung.
Cách trình bày chữ (in đậm, màu chữ) có phải phương tiện phi ngôn ngữ không?
Bản thân chữ vẫn là ngôn ngữ. Nhưng cách trình bày như cỡ chữ lớn, màu nổi, khung viền thì là yếu tố hình thức hỗ trợ việc đọc; nhiều tài liệu xếp chúng vào yếu tố hình thức của văn bản chứ không gọi riêng là phương tiện phi ngôn ngữ.