Soạn bài Ghe xuồng Nam Bộ giúp em hoàn thành phần chuẩn bị, bảy câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 76 – 79, Bài 10 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 7 Cánh diều tập hai. Văn bản nói về những chiếc ghe, chiếc xuồng – phương tiện quen thuộc của người dân miền sông nước – và là ví dụ rõ nhất cho cách triển khai thông tin theo lối phân loại đối tượng mà em cần nắm trong bài học này.
Tìm hiểu chung về văn bản Ghe xuồng Nam Bộ
Trước khi trả lời câu hỏi, em nắm vài thông tin chính về văn bản.

- Tác giả, xuất xứ: SGK ghi theo Minh Nguyên, đăng trên trang chonoicantho.vn; văn bản trong sách đã được lược bớt một số đoạn (dấu […]).
- Thể loại: thuộc nhóm văn bản thông tin, giới thiệu một loại phương tiện; có cước chú và danh mục tài liệu tham khảo ở cuối.
- Đối tượng: những chiếc ghe, chiếc xuồng của người dân Nam Bộ.
- Cách triển khai: chia đối tượng thành hai nhóm lớn (xuồng và ghe), trong mỗi nhóm lại tách ra từng loại cụ thể rồi nêu đặc điểm, công dụng.
Bố cục văn bản Ghe xuồng Nam Bộ
Văn bản được chia thành bốn phần, đúng như cách SGK gọi tên trong câu hỏi đọc hiểu:
- Phần (1) – từ đầu đến “chia thành nhiều loại”: nêu sự đa dạng của ghe xuồng và căn cứ để phân loại.
- Phần (2) – tiếp theo đến “trong giới thương hồ”: giới thiệu các loại xuồng.
- Phần (3) – tiếp theo đến hết đoạn về ghe Cửa Đại: giới thiệu các loại ghe, kể cả ghe riêng của từng địa phương.
- Phần (4) – còn lại: khẳng định giá trị của ghe xuồng đối với đời sống và văn hóa Nam Bộ.
Văn bản còn được bảo hộ bản quyền nên bài soạn chỉ tóm lược thông tin; em đọc toàn văn trong SGK trang 76 – 79.
Soạn bài Ghe xuồng Nam Bộ – Chuẩn bị (trang 76)
Trước khi đọc, SGK nhắc em ôn lại mục Kiến thức ngữ văn về cách triển khai thông tin trong văn bản thông tin, rồi thực hiện hai yêu cầu dưới đây.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm về các phương tiện được nêu (trang 76)
Đọc trước văn bản Ghe xuồng Nam Bộ; tìm hiểu thêm về các phương tiện được nêu trong văn bản.
Trả lời:
Khi đọc trước, em nên tự đặt và ghi câu trả lời cho mấy câu hỏi: văn bản giới thiệu đối tượng nào; đối tượng được chia thành mấy nhóm lớn; mỗi nhóm có những loại nhỏ nào; văn bản gồm mấy phần. Em có thể kẻ sẵn một bảng hai cột “Xuồng” – “Ghe” để điền tên từng loại khi đọc. Ngoài SGK, em tìm xem ảnh hoặc video về xuồng ba lá, ghe ngo đua trong lễ hội Ok Om Bok, chợ nổi Cái Răng… để hình dung rõ hình dáng các phương tiện.
Câu 2: Phương tiện đi lại đặc trưng của mỗi vùng miền; em thích phương tiện nào nhất? (trang 76)
Em biết những phương tiện đi lại nào mang tính đặc trưng của người dân ở mỗi vùng miền trên đất nước ta? Trong số đó, em thích phương tiện nào nhất? Vì sao?
Trả lời:
- Vùng núi phía Bắc: ngựa thồ hàng qua những con dốc dài; nhiều nơi người dân đi bộ, gùi hàng trên lưng.
- Tây Nguyên: voi từng là phương tiện chuyên chở và đi rừng của đồng bào; thuyền độc mộc trên sông, hồ.
- Vùng biển miền Trung: thuyền thúng, thuyền gỗ đánh cá.
- Đồng bằng sông Cửu Long: ghe, xuồng, đò ngang, đò dọc.
- Thành phố: xe máy, ô tô, xe buýt, tàu điện.
Em thích chiếc thuyền thúng nhất. Thoạt nhìn, nó chỉ như một chiếc nong tròn đan bằng tre, vậy mà người dân chài có thể chèo ra biển, xoay tròn tại chỗ rất khéo. Chiếc thuyền nhỏ ấy cho thấy sự sáng tạo của người dân ven biển từ những vật liệu sẵn có quanh mình.
Soạn bài Ghe xuồng Nam Bộ – Câu hỏi trong khi đọc (trang 77 – 79)
Bảy câu hỏi bên lề giúp em theo dõi từng bước người viết chia nhỏ đối tượng.
Câu 1: Phần (1) cho biết bài viết sẽ triển khai thông tin theo cách nào? (trang 77)
Phần (1) cho biết bài viết sẽ triển khai ý tưởng và thông tin theo cách nào?
Trả lời:
Phần (1) báo trước cách viết bằng chính câu kết: căn cứ vào cách làm ra, công dụng và cách vận hành, ghe xuồng có thể chia ra thành nhiều loại. Như vậy, bài viết sẽ đi theo lối phân loại đối tượng: chia ghe xuồng thành từng nhóm, từng loại rồi lần lượt giới thiệu, giải thích.
Câu 2: Trong phần (2) có mấy đối tượng được nhắc đến? (trang 77)
Trả lời:
Phần (2) chỉ bàn về một đối tượng lớn là xuồng. Trong đó, người viết kể ra sáu loại nhỏ: xuồng ba lá, xuồng năm lá, xuồng tam bản, xuồng vỏ gòn, xuồng độc mộc và xuồng máy. Mỗi loại được giới thiệu về kích thước, cách làm hoặc công dụng (riêng xuồng năm lá chỉ được nhắc tên như một biến thể ở Cần Thơ).
Câu 3: Chú ý các cước chú (i) và (ii) của văn bản (trang 77)
Trả lời:
- Cước chú (i) giải thích nguồn gốc từ tam bản: từ này mượn từ tiếng Hoa (xam pản); qua cách phiên âm của người Pháp, nó thành sampan.
- Cước chú (ii) giải thích chữ chài trong ghe chài: gốc từ tiếng Triều Châu (Trung Quốc) Pok chài, nghĩa là chở nhiều, nên ghe chài là ghe có sức tải lớn.
Hai cước chú đặt ở chân trang để giải thích những từ lạ mà không làm đứt mạch đọc của văn bản chính.
Câu 4: Phần (3) giới thiệu loại phương tiện gì? Các loại nhỏ trong đó (trang 77)
Phần (3) giới thiệu về loại phương tiện gì? Chú ý các loại nhỏ trong đó.
Trả lời:
Phần (3) giới thiệu ghe – loại phương tiện cỡ lớn, chở được nhiều hàng và đi xa. Các loại nhỏ gồm:
| Loại ghe | Đặc điểm, công dụng nổi bật |
|---|---|
| Ghe bầu | Mũi, lái đều nhọn, thân phình rộng, chạy bằng một đến ba cánh buồm, thường đi biển; loại lớn gọi là ghe trường đà. |
| Ghe lồng | Ghe lớn, mũi dài, có mui, chở hàng dọc bờ biển. |
| Ghe chài | Lớn nhất, có hai tầng, chở 150 – 200 tấn (loại ghe chài Nam Vang tới 300 tấn), dùng buôn bán đường xa. |
| Ghe cào tôm | Dáng nhỏ, bánh lái đặt bên hông, chuyên dùng để cào tôm vào ban đêm. |
| Ghe ngo | Ghe của đồng bào Khmer, sơn nhiều màu, mũi chạm hình rồng, rắn, phượng…, dùng để đua trong lễ hội. |
| Ghe hầu | Ghe của các quan như cai tổng, tri phủ hay tri huyện; đi đêm thì thắp đèn để người khác biết đó là ghe của quan. |
Cuối phần còn có các loại ghe theo địa phương: ghe Cửa Đại (do thợ Bình Đại, Bến Tre đóng), ghe câu Phú Quốc, ghe cửa Bà Rịa và ghe lưới rùng Phước Hải.
Câu 5: Ở đoạn này, người viết có triển khai thông tin theo cách phân loại không? (trang 78)
Trả lời:
Có. Ngay trong nhóm ghe, người viết vẫn tiếp tục chia nhỏ: trước hết theo hình dáng và công dụng (ghe chở hàng, ghe đánh bắt, ghe đua, ghe của quan), sau đó theo địa phương, với những loại ghe có tiếng ở Phú Quốc, Bà Rịa, Phước Hải, Bình Đại. Mỗi loại được nêu tên trước, rồi mới mô tả đặc điểm – đúng cách triển khai theo lối phân loại.
Câu 6: Nội dung chính của phần (4) là gì? (trang 79)
Trả lời:
Phần (4) khép lại văn bản bằng lời đánh giá: ghe xuồng vừa là phương tiện giao thông rất hữu ích, gắn bó mật thiết với người dân sông nước, vừa chứa đựng những giá trị văn hóa độc đáo. Người viết tin rằng dù kĩ thuật phát triển, đời sống khấm khá hơn, vai trò của “người bạn đường” này vẫn khó có gì thay thế được.
Câu 7: Các tài liệu tham khảo được tác giả xếp theo thứ tự nào? (trang 79)
Trả lời:
Danh mục tài liệu tham khảo được đánh số và sắp theo mức độ người viết sử dụng: những tài liệu được dựa vào nhiều nhất đứng trước, tài liệu ít dùng hơn xếp sau. Mỗi mục ghi đủ tên tác giả (hoặc chủ biên), tên sách, nhà xuất bản và năm xuất bản để người đọc có thể tra cứu lại.
Soạn bài Ghe xuồng Nam Bộ – Câu hỏi cuối bài (trang 79)
Sáu câu hỏi giúp em nắm bố cục, mục đích, cách triển khai thông tin và liên hệ với thực tế.
Câu 1: Xác định bố cục và nội dung chính của mỗi phần (trang 79)
Xác định bố cục của văn bản Ghe xuồng Nam Bộ. Nêu nội dung chính của mỗi phần trong văn bản.
Trả lời:
| Phần | Giới hạn | Nội dung chính |
|---|---|---|
| (1) | Đoạn mở đầu | Ghe xuồng Nam Bộ rất nhiều kiểu, nhiều tên gọi; nêu căn cứ để chia loại. |
| (2) | Đến “trong giới thương hồ” | Các loại xuồng: ba lá, năm lá, tam bản, vỏ gòn, độc mộc, xuồng máy. |
| (3) | Đến đoạn về ghe Cửa Đại | Các loại ghe theo công dụng và theo địa phương. |
| (4) | Đoạn cuối | Giá trị kinh tế, văn hóa và vai trò lâu dài của ghe xuồng. |
Câu 2: Mục đích của văn bản và cách các nội dung làm sáng tỏ mục đích (trang 79)
Mục đích của văn bản là gì? Các nội dung trình bày trong văn bản Ghe xuồng Nam Bộ đã làm sáng tỏ mục đích ấy như thế nào?
Trả lời:
Mục đích: cung cấp cho người đọc hiểu biết về sự phong phú của ghe xuồng Nam Bộ và vai trò của chúng trong đời sống người dân miền sông nước.
Cách làm sáng tỏ: văn bản trình bày theo trình tự: nhận định chung trước, chi tiết sau. Phần (1) nêu nhận định chung; phần (2) và (3) đưa ra hàng loạt loại xuồng, ghe kèm số liệu (chiều dài, sức chở, số buồm, số chèo), chất liệu, nơi sử dụng; phần (4) nâng lên thành giá trị văn hóa. Thông tin cụ thể, có cước chú và tài liệu tham khảo nên đáng tin, giúp người đọc vừa biết vừa hiểu vì sao ghe xuồng là nét riêng của Nam Bộ.
Câu 3: Cách triển khai ý tưởng, thông tin; biểu hiện và hiệu quả (trang 79)
Người viết đã chọn cách nào để triển khai ý tưởng và thông tin trong văn bản? Chỉ ra những biểu hiện cụ thể và hiệu quả của cách triển khai ấy.
Trả lời:
- Cách triển khai: phân loại đối tượng.
- Biểu hiện: ghe xuồng được chia thành hai nhóm lớn là xuồng và ghe. Nhóm xuồng gồm sáu loại nhỏ; nhóm ghe gồm ghe bầu, ghe lồng, ghe chài, ghe cào tôm, ghe ngo, ghe hầu và thêm các loại ghe của từng địa phương. Mỗi loại đều được nêu tên rồi mô tả hình dáng, kích thước, công dụng; ví dụ xuồng ba lá dài khoảng 4 mét, làm từ ba tấm ván ghép, chở được 4 – 6 người.
- Hiệu quả: thông tin nhiều nhưng được sắp xếp gọn, có thứ bậc rõ ràng, người đọc dễ theo dõi, dễ so sánh các loại với nhau và dễ ghi nhớ; đồng thời làm nổi bật sự đa dạng của ghe xuồng Nam Bộ.
Câu 4: Mục đích của cước chú, tài liệu tham khảo; có cần chú thích thêm không? (trang 79)
Các cước chú (“tam bản”, “chài”) và tài liệu tham khảo trong văn bản có mục đích gì? Em thấy có cần chú thích thêm những từ ngữ, kí hiệu nào khác trong văn bản không?
Trả lời:
- Cước chú giải thích nghĩa và nguồn gốc của những từ khó, giúp người đọc hiểu đúng mà không phải tra cứu nơi khác.
- Tài liệu tham khảo cho biết thông tin được lấy từ đâu, tăng độ tin cậy cho văn bản và giúp ai muốn tìm hiểu sâu hơn có chỗ để tra cứu.
- Có nên chú thích thêm: theo em, nên giải thích thêm một số từ địa phương hoặc ít gặp với học sinh vùng khác như thương hồ (người buôn bán trên sông, sống trên ghe), sào nạng, nhựa chai, ghe lườn, điền chủ, lưới rùng. Có thêm chú thích, người đọc ở miền Bắc hay miền Trung sẽ hiểu văn bản dễ dàng hơn.
Câu 5: Nhận xét về ghe, xuồng và phương tiện đi lại ở Nam Bộ (trang 79)
Qua văn bản, em có nhận xét gì về ghe, xuồng nói riêng và các phương tiện đi lại ở Nam Bộ nói chung?
Trả lời:
Ghe xuồng Nam Bộ hết sức phong phú: từ chiếc xuồng ba lá nhỏ gọn chở vài người đến chiếc ghe chài chở hàng trăm tấn, từ ghe đánh cá, ghe buôn đến ghe đua trong lễ hội. Sự đa dạng ấy xuất phát từ điều kiện tự nhiên của vùng đồng bằng chằng chịt sông ngòi, kênh rạch, nơi đường thủy là con đường chính. Việc đi lại ở Nam Bộ vì thế gắn chặt với sông nước, phản ánh óc sáng tạo của người dân và in dấu văn hóa của nhiều dân tộc cùng sinh sống (Kinh, Khmer, Hoa…).
Câu 6: Những thay đổi về phương tiện đi lại, vận chuyển hiện nay ở vùng sông nước Nam Bộ (trang 79)
Tìm hiểu thêm từ nhiều nguồn thông tin khác nhau để nêu một số nét thay đổi về phương tiện đi lại, vận chuyển hiện nay của vùng sông nước Nam Bộ.
Trả lời:
- Xuồng chèo tay dần được thay bằng xuồng gắn máy, vỏ lãi, ca nô chạy nhanh hơn.
- Nhiều cây cầu lớn được xây, đường bộ mở rộng, nên xe máy, ô tô, xe khách ngày càng phổ biến; nhiều bến phà, bến đò ngang đã dừng hoạt động.
- Hàng hóa được chở bằng sà lan, tàu sắt có trọng tải lớn thay cho ghe gỗ.
- Ghe xuồng truyền thống vẫn được giữ trong đời sống và du lịch: chợ nổi, du lịch miệt vườn, lễ hội đua ghe ngo của đồng bào Khmer.
Em có thể ghi nguồn tìm hiểu (báo, sách, phóng sự truyền hình) bên cạnh mỗi ý để phần trình bày thêm thuyết phục.
Kết luận
Ghe xuồng Nam Bộ là văn bản thông tin tiêu biểu cho cách triển khai theo lối phân loại: từ hai nhóm lớn là xuồng và ghe, người viết tách thành nhiều loại nhỏ, mỗi loại có đặc điểm, công dụng riêng, kèm cước chú và tài liệu tham khảo. Khi soạn bài, em cần nắm bốn phần của văn bản, các loại ghe, xuồng tiêu biểu và hiệu quả của cách trình bày này để vận dụng khi đọc các văn bản thông tin khác trong Bài 10.
Xem thêm: