Soạn bài Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ (theo Thi Sảnh) – văn bản đọc mở đầu Bài 3 “Văn bản thông tin”, sách Ngữ văn 9 Cánh diều tập một (trang 54–60). Bài soạn đi đủ phần Chuẩn bị, 12 câu hỏi trong khi đọc và 6 câu hỏi sau khi đọc, lời giải ngắn gọn, dẫn chứng lấy từ chính văn bản.
Kiến thức cần nắm trước khi soạn bài Vịnh Hạ Long
Đây là một văn bản thông tin dài, giới thiệu một danh thắng của Việt Nam đã được thế giới công nhận. Em nên nắm trước xuất xứ, thể loại và bố cục để trả lời câu hỏi nhanh và đúng trọng tâm.

Xuất xứ, thể loại của văn bản
- Xuất xứ: SGK ghi theo Thi Sảnh, đăng trên Tạp chí Di sản văn hóa, số 8, năm 2004.
- Thể loại: văn bản thông tin giới thiệu một danh lam thắng cảnh; phương thức biểu đạt chính là thuyết minh, kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Đối tượng: vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) – di sản thiên nhiên thế giới.
Bố cục văn bản Vịnh Hạ Long
- Phần mở đầu (trước mục 1): sự kiện vịnh Hạ Long được công nhận là Di sản thế giới năm 1994, lời đánh giá của chuyên gia quốc tế và thơ Nguyễn Trãi; nêu câu hỏi dẫn vào vấn đề.
- Mục 1: Vịnh Hạ Long là tác phẩm nghệ thuật thiên nhiên hoành tráng.
- Mục 2: Cảnh quan Hạ Long biến đổi theo góc nhìn và thời gian.
- Mục 3: Hệ thống hang động như những lâu đài bí ẩn (cuối mục là đoạn kết về nguồn cảm hứng nghệ thuật mà Hạ Long khơi gợi).
Chuẩn bị (trang 54–55)
Yêu cầu: Xem lại kiến thức về văn bản thông tin; đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm về vịnh Hạ Long; nêu hiểu biết của em về vịnh Hạ Long; chuẩn bị tư liệu để giới thiệu với bạn một danh lam thắng cảnh.
Trả lời:
- Về văn bản thông tin: loại văn bản cung cấp thông tin khách quan, chính xác về một đối tượng; thường có nhan đề nêu nội dung chính, các đề mục nhỏ, số liệu, dẫn chứng, có thể kèm hình ảnh, sơ đồ. Văn bản giới thiệu danh lam thắng cảnh thường được triển khai theo trật tự không gian, thời gian hoặc theo các phương diện của đối tượng.
- Hiểu biết về vịnh Hạ Long: vịnh nằm ở vùng biển Đông Bắc, thuộc tỉnh Quảng Ninh, có gần 2.000 hòn đảo lớn nhỏ, phần lớn là đảo đá vôi. Tên gọi Hạ Long (rồng hạ xuống) gắn với truyền thuyết rồng mẹ, rồng con xuống giúp người Việt đánh giặc, nhả ngọc tạo thành các đảo. Năm 1994, UNESCO ghi danh vịnh Hạ Long là di sản thiên nhiên thế giới vì giá trị cảnh quan; năm 2000 vịnh được ghi danh lần thứ hai vì giá trị địa chất, địa mạo; năm 2023, di sản được mở rộng thành Vịnh Hạ Long – quần đảo Cát Bà.
- Chuẩn bị giới thiệu một danh lam thắng cảnh: chọn một địa danh em biết (ví dụ: hồ Hoàn Kiếm, Tràng An, động Phong Nha, Hội An…), ghi lại vị trí, nguồn gốc tên gọi, đặc điểm nổi bật, giá trị và cảm nhận của em; nếu được, chuẩn bị thêm ảnh minh họa.
Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc (trang 55–60)
Các câu hỏi dưới đây nằm ở lề phải văn bản, giúp em theo dõi cách tác giả triển khai thông tin qua từng phần.
Câu 1: Phần mở đầu nêu thông tin chính gì? (trang 55)
Trả lời:
Phần mở đầu cho biết thời điểm, địa điểm và sự kiện vịnh Hạ Long được công nhận: chiều ngày 14/12/1994, trong kì họp thứ 18 diễn ra tại một khách sạn ở thành phố Phu-kẹt (Thái Lan), Hội đồng Di sản thế giới đã chính thức đưa vịnh Hạ Long vào danh sách các di sản của nhân loại. Thông tin chính xác đến từng phút ấy tạo sự tin cậy ngay từ câu đầu.
Câu 2: Chú ý tên viết tắt của các tổ chức quốc tế (trang 55)
Trả lời:
- IUCN: Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature) – tổ chức tư vấn cho UNESCO về các di sản thiên nhiên.
- UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization).
Việc dẫn tên hai tổ chức này cho thấy lời đánh giá về Hạ Long đến từ những cơ quan có uy tín quốc tế.
Câu 3: Việc dẫn thơ Nguyễn Trãi ở đây có tác dụng gì? (trang 55)
Trả lời:
Hai câu thơ trong bài Vân Đồn cho thấy từ khoảng 550 năm trước, Nguyễn Trãi đã gọi vùng biển đảo này là kì quan. Dẫn thơ ở đây có ba tác dụng: khẳng định vẻ đẹp của Hạ Long được người Việt phát hiện từ rất sớm, trước cả các chuyên gia quốc tế; tăng sức thuyết phục cho lời đánh giá vừa nêu; làm văn bản thông tin thêm chất trữ tình, gợi niềm tự hào.
Câu 4: Tiêu đề mục 1 cho biết nội dung chính của phần này là gì? (trang 56)
Trả lời:
Tiêu đề “Vịnh Hạ Long là tác phẩm nghệ thuật thiên nhiên hoành tráng” cho biết phần này giới thiệu vẻ đẹp tạo hình của vịnh: hàng nghìn đảo đá với muôn vàn hình dáng do thiên nhiên “điêu khắc” và “vẽ” nên, vừa kì vĩ, khỏe khoắn vừa duyên dáng, mơ mộng.
Câu 5: Chú ý những chi tiết làm sáng tỏ cho tiêu đề mục 1 (trang 56)
Trả lời:
- Trên một diện tích không lớn có hàng nghìn hòn đảo đá với đủ mọi hình dáng: có chỗ quần tụ chồng chất, có chỗ xếp thành dãy dài như bức trường thành, có chỗ đứt nối, nhấp nhô.
- Đảo đá như những sinh linh: hòn Lã Vọng như ông già ngồi câu, hòn Ông Sư như nhà sư chắp tay, hòn Gà Chọi, hòn Đại Bàng…
- Chân đảo bị nước biển khoét thành những hình thù lạ, giống phù điêu; nhiều đảo có dáng kiến trúc như hòn Mái Nhà, hòn Ngà Voi, hòn Xếp, hòn Pháo Đài.
- Mặt vịnh lúc rộng mênh mông, lúc thắt lại như ao, như kênh; bốn mùa mang sắc xanh của biển, núi và trời.
Câu 6: Những biện pháp tu từ nào được sử dụng trong đoạn này? (trang 57)
Trả lời:
Đoạn văn tả chân các đảo đá (từ “Tại chân các đảo đá” đến hòn Pháo Đài) dùng nhiều biện pháp tu từ:
- Nhân hóa: biển cả được hình dung như người thợ cần mẫn chạm khắc; tạo hóa là nhà kiến trúc sư tài hoa.
- So sánh: chân đảo “trông xa tựa bức phù điêu uốn lượn quanh chân đảo”; hòn Mái Nhà “đen bóng như được ghép bằng ván gỗ lim”; hòn Ngà Voi “cong cong giống chiếc ngà voi”.
- Liệt kê và điệp cấu trúc “Có đảo…” để giới thiệu lần lượt nhiều hòn đảo.
- Từ láy gợi hình (tầng tầng, lớp lớp, cong cong, chông chênh…).
Tác dụng: giúp người đọc hình dung rõ các đảo đá kì lạ, thấy được bàn tay tài hoa của thiên nhiên qua hàng triệu năm.
Câu 7: Dự đoán nội dung chính của mục 2 (trang 57)
Trả lời:
Từ tiêu đề “Cảnh quan Hạ Long biến đổi theo góc nhìn và thời gian”, có thể dự đoán mục 2 sẽ tả vẻ đẹp thay đổi của vịnh khi du khách nhìn từ những vị trí khác nhau (xa – gần) và vào những thời điểm khác nhau (các mùa, các buổi trong ngày).
Câu 8: Vẻ đẹp và cái thú ở Hạ Long được khắc họa theo trình tự nào? (trang 58)
Trả lời:
Trước hết, tác giả đi theo góc nhìn của người đi thuyền: từ xa thấy dãy đảo như bức trường thành, đến gần thì bức thành ấy tách ra thành nhiều đảo, ngõ ngách mở ra rồi khép lại như trò chơi ú tim. Sau đó là trình tự thời gian: buổi sớm mùa xuân, buổi sáng mùa hè, trưa hè, chiều hè và đêm trăng mùa thu.
Câu 9: Đêm trăng thu ở Hạ Long có gì độc đáo? (trang 58)
Trả lời:
Đêm trăng thu làm Hạ Long vừa đẹp lộng lẫy vừa huyền bí. Mặt vịnh lặng như gương, trăng rọi xuống sáng bạc, “lóng lánh tựa thuỷ ngân”. Khi trăng lên, trăng lặn, trong tiếng gió và sóng, các đảo đá lúc ẩn lúc hiện giữa những mảng sáng tối đan xen, trở nên xa lạ và đầy bí mật.
Câu 10: Chú ý vẻ đẹp đa dạng của hang động ở Hạ Long (trang 59)
Trả lời:
- Vịnh có tới hàng chục hang động ẩn trong các khối núi, rải rác nhiều nơi nhưng tập trung ở vùng di sản; hang lớn hang nhỏ, dáng vẻ và sắc màu mỗi nơi một khác.
- Động Thiên Cung: đường lên men theo vách đá, thơm hương phong lan; lòng động rộng chừng 25 m, dài chừng 120 m, trần cao trên 20 m; vách động có những “bức tranh” chạm nổi hình voi, ngựa, chiến binh, các nhân vật trên thượng giới; trên trần có cây gậy bằng đá dài khoảng 2 m được ví với gậy thần của Tôn Ngộ Không; thạch nhũ ánh lên như dát bạc.
Câu 11: Hồ Ba Hầm có gì độc đáo? (trang 59)
Trả lời:
- Khác với động Thiên Cung nằm lưng chừng núi, đáy hồ Ba Hầm chính là mặt nước vịnh; khi triều xuống, trần hang chỉ cao hơn mặt nước 4–5 m.
- Hồ nằm trong đảo đá Đầu Bê, cửa hang hình bán nguyệt, thông với dòng hải lưu từ Cửa Vạn.
- Hồ gồm ba trũng biển tròn, vách dựng đứng, nối với nhau qua những hang luồn hẹp; du khách phải đi xuồng, thuyền nhỏ qua rừng thạch nhũ rực rỡ, thấy cá, tôm, cua bơi lội và cây khế cổ thụ đầy sóc, khỉ, chim.
Câu 12: Ý của Quách Mạt Nhược qua câu thơ là gì? (trang 60)
Trả lời:
Nhà thơ Trung Quốc Quách Mạt Nhược viết (Hoàng Trung Thông dịch):
Cảnh trước mặt cho tôi vài thi tứ
So với cảnh diệu kì, thơ có cũng như không.
Ý của ông: cảnh Hạ Long khơi gợi cảm hứng sáng tác, nhưng vẻ đẹp ấy kì diệu đến mức thơ ca viết ra vẫn không sánh được với cảnh thật. Đây là cách khen ngợi Hạ Long rất khiêm nhường mà sâu sắc.
Câu hỏi sau khi đọc (trang 60)
Phần này yêu cầu em nhìn lại toàn bộ văn bản: nhan đề, bố cục, đặc điểm thể loại và giá trị của di sản.
Câu 1: Nhan đề thể hiện sự đánh giá như thế nào về kì quan vịnh Hạ Long? (trang 60)
Trả lời:
Nhan đề là một lời đánh giá rất cao. “Kì quan thiên nhiên” khẳng định Hạ Long là cảnh đẹp hiếm có do tự nhiên tạo nên; “độc đáo” nhấn mạnh nét riêng không nơi nào có; “tuyệt mĩ” nói vẻ đẹp đạt đến mức hoàn hảo. Nhan đề cũng nêu luôn vấn đề mà toàn bộ văn bản sẽ chứng minh.
Câu 2: Trình bày bố cục văn bản bằng một sơ đồ; các đề mục đã triển khai vấn đề ở nhan đề như thế nào? (trang 60)
Trả lời:
Sơ đồ bố cục văn bản:

Cách triển khai: phần mở đầu nêu sự kiện và lời đánh giá “độc đáo”, “tuyệt mĩ”, rồi đặt câu hỏi vẻ đẹp ấy nằm ở đâu. Ba đề mục lần lượt trả lời câu hỏi đó từ ba phương diện: hình dáng (đảo đá như tác phẩm điêu khắc, hội họa), sự biến đổi (cảnh thay đổi theo góc nhìn và thời gian), chiều sâu (hang động trong lòng núi). Đoạn cuối nâng vấn đề lên: vẻ đẹp ấy vượt cả khả năng diễn tả của nghệ thuật. Như vậy, mỗi đề mục là một luận điểm nhỏ, cùng làm sáng tỏ hai chữ “độc đáo” và “tuyệt mĩ”.
Câu 3: Vì sao đây là văn bản thông tin? Văn bản kết hợp những phương thức biểu đạt nào, tác dụng ra sao? (trang 60)
Trả lời:
- Là văn bản thông tin vì mục đích chính là cung cấp hiểu biết về vịnh Hạ Long: thời gian, địa điểm công nhận di sản, tên các tổ chức, tên các đảo, số đo của hang động, vị trí hồ Ba Hầm…; văn bản có nhan đề, đề mục rõ ràng, thông tin được sắp xếp theo các phương diện của đối tượng.
- Phương thức biểu đạt: thuyết minh là chính, kết hợp miêu tả (tả đảo đá, cảnh sớm, trưa, chiều, đêm trăng, lòng hang), biểu cảm (sự say mê, ngợi ca của người viết) và tự sự (kể sự kiện năm 1994, chuyến du ngoạn trên thuyền).
- Tác dụng: thông tin vừa chính xác vừa sinh động, giúp người đọc như được tận mắt ngắm Hạ Long; khơi dậy niềm tự hào và ý thức giữ gìn di sản.
Câu 4: Từ văn bản, hãy chỉ ra những giá trị của vịnh Hạ Long (trang 60)
Trả lời:
- Giá trị thẩm mĩ, cảnh quan: hàng nghìn hòn đảo đủ mọi hình dáng, mặt vịnh xanh, cảnh sắc đổi thay theo giờ, theo mùa.
- Giá trị địa chất, địa mạo: đảo đá vôi, chân đảo bị nước biển bào mòn qua hàng triệu năm, hệ thống hang động và hồ nước trong lòng núi.
- Giá trị sinh học: hoa phong lan trên vách núi, cá, tôm, cua trong hồ, sóc bay, khỉ, vẹt, chim quanh hồ Ba Hầm.
- Giá trị văn hóa, lịch sử, nghệ thuật: Hạ Long đi vào thơ Nguyễn Trãi, chúa Trịnh Cương, Chế Lan Viên, Huy Cận, Quách Mạt Nhược…; lời đánh giá của IUCN còn nhắc tới các di sản khảo cổ.
- Giá trị du lịch: những trải nghiệm đi thuyền, ngắm bình minh, tắm biển, leo núi thăm động hấp dẫn du khách.
Câu 5: Văn bản mang lại cho em những hiểu biết gì về vịnh Hạ Long? Em còn muốn biết thêm thông tin nào? (trang 60)
Trả lời:
Văn bản giúp em biết thời điểm Hạ Long trở thành di sản thế giới, biết tên và hình dáng của nhiều hòn đảo, cách cảnh vịnh thay đổi trong ngày và trong năm, vẻ kì ảo của động Thiên Cung, hồ Ba Hầm. Em còn muốn tìm hiểu thêm: quá trình hình thành địa chất của các đảo đá vôi; những hang động khác như hang Sửng Sốt, hang Đầu Gỗ; đời sống của làng chài trên vịnh; và những biện pháp bảo vệ di sản trước rác thải, khai thác du lịch quá mức.
Câu 6: Nếu giới thiệu một danh lam thắng cảnh của quê hương, em sẽ nêu những thông tin nào? (trang 60)
Trả lời:
- Tên gọi, vị trí địa lí, cách đến nơi đó.
- Nguồn gốc hình thành, sự tích hoặc lịch sử gắn với địa danh.
- Đặc điểm nổi bật: cảnh quan, công trình, nét riêng so với nơi khác; vẻ đẹp theo mùa, theo thời điểm.
- Giá trị (thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, du lịch) và các danh hiệu được công nhận.
- Lưu ý khi tham quan, việc bảo tồn và cảm nghĩ của em.
Ví dụ, khi giới thiệu Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình), em có thể nêu: vị trí, hệ thống núi đá vôi và hang động xuyên thủy, cố đô Hoa Lư gắn với nhà Đinh, nhà Tiền Lê, và việc UNESCO công nhận đây là di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới năm 2014.
Kết luận
Soạn bài Vịnh Hạ Long: một kì quan thiên nhiên độc đáo và tuyệt mĩ, em cần nắm cách văn bản thông tin triển khai vấn đề nêu ở nhan đề qua ba đề mục (đảo đá – cảnh quan biến đổi – hang động), cách kết hợp thuyết minh với miêu tả, biểu cảm, và những giá trị nhiều mặt của di sản. Đây cũng là gợi ý để em viết bài giới thiệu một danh lam thắng cảnh ở phần Viết của Bài 3.
Xem thêm: