Truyện ngụ ngôn là loại truyện ngắn, kể bằng văn xuôi hoặc văn vần, thường mượn chuyện loài vật, đồ vật hay chính con người để nói bóng gió về chuyện đời, qua đó gửi một bài học về cách nhìn, cách sống. Hỏi “truyện ngụ ngôn là truyện như thế nào” thì có thể nhớ gọn: truyện nhỏ, nhân vật thường biết nói như người, và luôn có một lời khuyên giấu sau câu chuyện.
Nội dung về khái niệm nước chảy đá mòn được giải thích kĩ hơn, có ví dụ và lưu ý khi dùng, ở một bài riêng.
| Khái niệm | Truyện ngắn gọn, hàm ý, nêu bài học đạo lí hoặc kinh nghiệm sống |
| Nghĩa của tên gọi | Ngụ (寓): gửi gắm, nói bóng; ngôn (言): lời. Ngụ ngôn là lời có ý gửi gắm |
| Thuộc | Loại truyện tự sự; trong văn học dân gian Việt Nam đứng cạnh cổ tích, truyện cười |
| Dấu hiệu nhận biết | Ngắn, nhân vật được nhân hóa, cách nói ẩn ý, kết thúc gợi ra bài học |
| Học ở | Ngữ văn 7 (Kết nối tri thức Bài 6, Chân trời sáng tạo, Cánh diều) |

Truyện ngụ ngôn theo sách Ngữ văn 7
Mở đầu tập hai sách Ngữ văn 7 (Kết nối tri thức), mục Tri thức ngữ văn xếp ngụ ngôn vào loại truyện kể có quy mô nhỏ. Việc chính của nó là đưa ra lẽ phải ở đời và những điều người ta đúc rút khi sống, nhưng không nói toạc ra mà nói vòng, nói gián tiếp. Sách cũng chỉ ra mấy nét quen: dung lượng ít, có thể là văn vần hay văn xuôi; nhân vật là con người, hoặc loài vật, đồ vật được cho nói năng, suy nghĩ như người; lời kể nhiều hình ảnh, đôi chỗ khiến người đọc bật cười.
Từ điển tiếng Việt (bản Hoàng Phê, tra qua Soha Tra Từ) giảng gọn hơn: ngụ ngôn là bài thơ hoặc truyện ngắn mượn chuyện loài vật để nói về việc đời, nhằm giáo dục đạo lí và kinh nghiệm sống. Wikipedia tiếng Việt xếp ngụ ngôn vào văn học giáo huấn và nhấn mạnh rằng thể loại này lấy lối nói phúng dụ, tức nói chuyện này để ám chỉ chuyện kia, làm nguyên tắc tổ chức cả tác phẩm.
Ngay tên gọi đã chứa định nghĩa. Chữ ngụ (寓) trong Hán Việt có nghĩa gửi gắm, nói bóng; Thiều Chửu giảng ngụ ngôn là nói chuyện này mà ngụ ý ở chuyện kia. Chữ ngôn (言) là lời. Nghĩa đen: lời nói có gửi một ý khác bên trong.
Bốn đặc điểm của truyện ngụ ngôn giúp nhận ra ngay
- Ngắn, ít sự việc. Phần lớn truyện chỉ xoay quanh một tình huống. “Ếch ngồi đáy giếng” chỉ có con ếch, cái giếng, trận mưa và một bước ra ngoài.
- Nhân vật ít khi có tên riêng. Đó là “con cáo”, “con quạ”, “anh nông dân”, “năm ông thầy bói”. Nhân vật đại diện cho một kiểu người, một thói tật, nên không cần lý lịch.
- Loài vật, đồ vật nói và nghĩ như người. Đây là phép nhân hóa: rùa thách thỏ chạy thi, chân tay tai mắt cãi nhau với miệng.
- Có một bài học ở cuối. Có truyện để người đọc tự rút ra, có truyện nói thẳng một câu kết. Nhiều bài học còn đọng lại thành thành ngữ: “ếch ngồi đáy giếng”, “thầy bói xem voi”, “đẽo cày giữa đường”.
Một mẹo nhỏ khi làm bài: đọc xong, thử thay con vật bằng một người quen trong lớp. Nếu câu chuyện vẫn “khớp” và nghe như đang nhắc khéo ai đó, gần như chắc đó là ngụ ngôn.
Những truyện ngụ ngôn quen thuộc và bài học rút ra
Ếch ngồi đáy giếng. Con ếch sống lâu trong giếng, thấy trời chỉ bằng cái vung và tưởng mình là chúa tể. Khi ra ngoài, nó nghênh ngang và bị trâu giẫm bẹp. Truyện phê phán kẻ hiểu biết hẹp mà huênh hoang, và nhắc người đọc luôn mở rộng tầm nhìn. Phần hỏi đáp trong bài soạn Ếch ngồi đáy giếng theo hai bộ sách phân tích kỹ từng chi tiết.
Thầy bói xem voi. Năm ông thầy bói mù, mỗi người sờ một bộ phận của con voi rồi khẳng định voi giống cái đòn càn, cái quạt thóc, cái cột đình… cãi nhau đến đánh nhau. Tác dụng của cách kể: tiếng cười bật ra từ sự tự tin sai chỗ, còn bài học là muốn hiểu sự vật thì phải nhìn toàn diện. Đọc lại nguyên văn ở truyện năm ông thầy bói sờ voi.
Đẽo cày giữa đường. Anh thợ mộc nghe ai góp ý cũng làm theo, đẽo đi đẽo lại đến khi khúc gỗ thành vô dụng. Truyện khuyên phải biết lắng nghe nhưng có chủ kiến. Văn bản này có trong phần soạn Đẽo cày giữa đường lớp 7.
Sư tử và chuột. Sư tử tha cho con chuột nhỏ, về sau chính chuột gặm lưới cứu sư tử. Kẻ yếu cũng có lúc giúp được kẻ mạnh, nên đừng coi thường ai. Truyện này gắn với kho ngụ ngôn mang tên người kể chuyện Hy Lạp Ê-dốp, về sau nhà thơ Pháp La Phông-ten kể lại bằng thơ.
Ngụ ngôn khác cổ tích, truyện cười và tục ngữ chỗ nào?
| Tiêu chí | Truyện ngụ ngôn | Truyện cổ tích | Truyện cười | Tục ngữ |
|---|---|---|---|---|
| Độ dài | Rất ngắn | Dài hơn, nhiều biến cố | Ngắn | Một câu |
| Nhân vật | Loài vật, đồ vật nhân hóa, kiểu người | Người mồ côi, dũng sĩ, nhân vật thần kì | Người có thói xấu đáng cười | Không có nhân vật |
| Mục đích chính | Răn dạy, khuyên nhủ | Gửi ước mơ công bằng, cái thiện thắng | Gây cười, phê phán | Đúc kết kinh nghiệm |
| Yếu tố kì ảo | Ít | Nhiều (Bụt, tiên, phép lạ) | Không | Không |
Ranh giới đôi khi mờ: “Thầy bói xem voi” vừa gây cười vừa răn dạy, nên khi làm bài cần nhìn mục đích chính: tiếng cười ở đây là để dẫn tới bài học. Còn tục ngữ và ngụ ngôn thì gần nhau về mục đích, chỉ khác hình thức; Ngữ văn 7 Kết nối tri thức đặt hai thể loại vào cùng một bài học, ai cần ôn có thể xem tục ngữ được hiểu thế nào.
Một thể loại cũng cho loài vật nói năng như người là đồng thoại, nhưng viết cho thiếu nhi và không cốt rút ra bài học ngụ ý; truyện đồng thoại có đặc điểm và ví dụ SGK riêng.
Năm câu luyện nhận biết truyện ngụ ngôn
Câu 1: Truyện “Rùa và Thỏ” có phải truyện ngụ ngôn không? Vì sao?
Đáp án: Có. Truyện ngắn, nhân vật là con vật biết nói và thi chạy như người, kết thúc rút ra bài học: chậm mà chắc vẫn thắng kẻ nhanh mà chủ quan.
Câu 2: Cho truyện “Tấm Cám”. Đây có phải ngụ ngôn không?
Đáp án: Không. Tấm Cám là truyện cổ tích: truyện dài, nhiều biến cố, có Bụt và các lần hóa thân kì ảo, gửi ước mơ ở hiền gặp lành chứ không nhằm một lời khuyên ngắn.
Câu 3: Nêu bài học của truyện “Đẽo cày giữa đường” bằng một câu.
Đáp án: Làm việc gì cũng cần có chủ kiến; lắng nghe góp ý nhưng phải biết chọn lọc, đừng ai bảo gì làm nấy.
Câu 4: Thành ngữ nào sinh ra từ truyện ngụ ngôn: “ếch ngồi đáy giếng”, “nước chảy đá mòn”, “thầy bói xem voi”?
Đáp án: “Ếch ngồi đáy giếng” và “thầy bói xem voi”. “Nước chảy đá mòn” là thành ngữ đúc kết kinh nghiệm, không gắn với một truyện cụ thể.
Câu 5: Vì sao truyện ngụ ngôn hay mượn loài vật làm nhân vật?
Đáp án: Mượn loài vật giúp nói chuyện người một cách kín đáo, đỡ mất lòng; mỗi con vật lại sẵn một nét dễ nhận (cáo ranh mãnh, rùa chậm chạp), nên bài học hiện ra rõ mà người nghe vẫn thấy thú vị.
Học sinh hỏi gì về truyện ngụ ngôn?
Truyện ngụ ngôn là truyện như thế nào?
Là truyện ngắn, thường dùng nhân vật loài vật hoặc đồ vật được nhân hóa, kể bằng lối ẩn ý để rút ra một bài học sống. Đọc xong, người đọc phải tự liên hệ với con người mới thấy hết ý.
Ngụ ngôn nghĩa là gì?
Theo Hán Việt, ngụ là gửi gắm, ngôn là lời; ngụ ngôn là lời nói có gửi một ý khác bên trong. Tên gọi ấy cũng chính là đặc trưng của thể loại.
Truyện ngụ ngôn có phải văn học dân gian không?
Phần lớn truyện ngụ ngôn Việt Nam là văn học dân gian, truyền miệng và không rõ tác giả. Nhưng cũng có ngụ ngôn của tác giả cụ thể, như của Ê-dốp, La Phông-ten hay Trang Tử.
Bài học trong truyện ngụ ngôn thường nằm ở đâu?
Có khi ở câu kết nói thẳng, có khi ẩn trong kết cục của nhân vật. Cách tìm nhanh: hỏi xem nhân vật sai ở đâu, cái sai ấy dẫn đến hậu quả gì.