Phúng dụ là cách kể một câu chuyện, dựng một hình tượng ở lớp nghĩa bề mặt để ngầm nói tới một ý nghĩa khác, thường là bài học đạo đức, triết lí hay nhận xét về xã hội. Thuật ngữ này tương ứng với chữ allegory trong tiếng Anh; người ta còn gọi nôm là lối nói bóng, nói ngụ ý. Điểm phân biệt quan trọng: phúng dụ thường phủ lên cả tác phẩm chứ không dừng ở một câu.
| Khái niệm | Biện pháp chuyển nghĩa ở quy mô lớn: chuyện bề mặt ngụ một ý tưởng ở bề sâu |
| Chữ Hán | 諷喻: phúng là nói bóng gió, dụ là ví, làm cho hiểu |
| Thuộc | Lí luận văn học, nhóm thủ pháp chuyển nghĩa (cùng họ với ẩn dụ, tượng trưng) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có hai lớp nghĩa; nhân vật, sự việc đại diện cho một ý niệm trừu tượng |

Phúng dụ, nói một chuyện để ngụ chuyện khác
Ghép hai chữ Hán lại sẽ thấy ngay tinh thần của thuật ngữ. Theo Thiều Chửu, chữ phúng (諷) có nghĩa nói bóng gió để người nghe tự tỉnh ngộ, cũng là chữ phúng trong “trào phúng”. Chữ dụ (喻) là ví von, làm cho người ta hiểu, như trong “tỉ dụ”. Từ điển Wiktionary ghi 諷喻 trong tiếng Trung với nghĩa ngụ ngôn, phúng dụ, và cả nghĩa khuyên can bằng lời lẽ khéo, gián tiếp.
Wikipedia tiếng Việt, dựa theo cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân chủ biên, xếp phúng dụ vào nhóm thủ pháp chuyển nghĩa, nhưng nhấn mạnh rằng nó còn là cách sắp đặt cả hệ thống hình tượng, hay dùng để gửi những thông điệp về luân lí, văn hóa, xã hội. Trang thuật ngữ của Viện Thi ca Hoa Kỳ (poets.org) mô tả allegory theo hướng gần gũi hơn: một tác phẩm kể chuyện đơn giản nhưng phản chiếu những sự việc phức tạp ngoài đời, hoặc gửi gắm một bài học cư xử. Chữ allegory có gốc Hi Lạp allēgoria, nghĩa là nói theo cách khác.
Phúng dụ khác ẩn dụ, ngụ ngôn và trào phúng chỗ nào?
| Khái niệm | Phạm vi | Điểm cốt lõi |
|---|---|---|
| Ẩn dụ | Một từ, một hình ảnh | Gọi tên A bằng tên B dựa trên nét giống nhau |
| Phúng dụ | Cả câu chuyện, cả tác phẩm | Một hệ thống hình ảnh có nghĩa bề sâu nhất quán |
| Ngụ ngôn | Một thể loại truyện | Truyện ngắn, thường mượn loài vật, đồ vật, rút ra bài học; là “đất” quen của phúng dụ |
| Trào phúng | Giọng điệu | Dùng tiếng cười để châm biếm, phê phán |
| Tượng trưng | Một hình ảnh mang nhiều tầng nghĩa | Nghĩa mở, khó quy về một ý duy nhất |
Có thể hình dung ẩn dụ là một viên gạch, còn phúng dụ là cả ngôi nhà xây bằng những viên gạch ấy. Muốn ôn lại viên gạch, đọc bài ẩn dụ cùng bốn kiểu thường gặp và bài tập. Trào phúng và phúng dụ chung chữ phúng nên hay bị lẫn, nhưng một bên là giọng cười, một bên là cách tổ chức nghĩa; tác phẩm có thể vừa phúng dụ vừa trào phúng. Phần giọng cười có bài riêng về tiếng cười trào phúng và cách nó khác châm biếm. Còn so với tượng trưng, các nhà lí luận lãng mạn châu Âu từng chê phúng dụ là đơn giản hơn, vì nghĩa của nó thường quy về được một ý rõ ràng.
Ví dụ phúng dụ từ thần thoại đến sách Ngữ văn
Những vị thần mang hình một ý niệm
Thần thoại Hi Lạp là kho phúng dụ cổ. Người Hi Lạp hình dung chiến thắng thành nữ thần Nike, còn công lí thành nữ thần Themis tay cầm cân. Đến nay, tượng người phụ nữ cầm cân trước tòa án ở nhiều nước vẫn đọc theo lối ấy: nhìn thấy cái cân là hiểu tới sự cân nhắc công bằng.
Hang động của Plato
Trong sách Cộng hòa, Plato kể về những người bị xích trong hang, cả đời chỉ nhìn thấy bóng in trên vách và tưởng đó là thế giới thật. Câu chuyện, thường được dịch là “ngụ ngôn hang động”, là phúng dụ về con đường đi từ ảo tưởng đến hiểu biết. Mọi chi tiết đều có nghĩa thứ hai: hang là sự thiếu hiểu biết, ánh sáng bên ngoài là chân lí.
Ếch ngồi đáy giếng và Thầy bói xem voi
Hai truyện ngụ ngôn trong Ngữ văn 7 cho thấy phúng dụ ở quy mô nhỏ. Con ếch tưởng bầu trời chỉ bằng chiếc vung, những ông thầy bói mỗi người sờ một bộ phận rồi cãi nhau về hình con voi. Bề mặt là chuyện cười, bề sâu là lời nhắc về cái nhìn hạn hẹp và phiến diện. Bài soạn Ếch ngồi đáy giếng theo hai bộ sách có phần câu hỏi đọc hiểu đúng về lớp nghĩa này.
Một trang trại thành một xã hội
Tiểu thuyết Trại súc vật của George Orwell kể chuyện bầy thú nổi dậy đuổi ông chủ rồi tự quản trang trại. Đọc đến cuối, người ta thấy câu chuyện về loài vật ngụ ý chuyện quyền lực trong xã hội loài người: kẻ nắm quyền mới có thể lặp lại chính điều mà họ từng chống lại.
Ba câu hỏi để biết mình đang đọc một phúng dụ
- Bề mặt có “lạ” không? Con vật biết nói, vị thần cầm cân, nhân vật tên là Lười Biếng hay Hi Vọng. Sự phi lí có chủ ý thường là lời mời đọc sâu hơn.
- Các chi tiết có khớp với nhau thành một hệ thống không? Một hình ảnh lạ đứng riêng chỉ là ẩn dụ. Khi hầu hết nhân vật, sự việc đều quy được về một ý chung, đó là phúng dụ.
- Bỏ lớp truyện đi, còn lại thông điệp gì? Nếu tóm được thành một câu bài học hay một nhận xét về đời sống, nhiều khả năng tác phẩm được tổ chức theo lối phúng dụ.
Lưu ý thêm: nhiều câu chuyện được người đọc hiểu theo lối phúng dụ dù tác giả không chủ ý. Khi làm bài, nên nói “có thể hiểu theo nghĩa phúng dụ” thay vì khẳng định tác giả đã định như vậy, trừ khi có tư liệu chứng minh.
Bốn câu luyện nhận diện phúng dụ
Câu 1: Vì sao truyện Ếch ngồi đáy giếng được xem là có tính phúng dụ?
Đáp án: Vì toàn bộ câu chuyện về con ếch là lớp nghĩa bề mặt, ngụ một lớp nghĩa bề sâu về con người: kẻ sống trong môi trường chật hẹp dễ tưởng mình giỏi, rồi trả giá khi ra thế giới rộng. Hình tượng ếch, giếng, bầu trời đều quy được về ý ấy.
Câu 2: Hình ảnh “thuyền” và “bến” trong một câu ca dao tình yêu là ẩn dụ hay phúng dụ?
Đáp án: Là ẩn dụ. Hình ảnh chỉ nằm trong một câu thơ, dựa trên nét giống nhau giữa người đi và người ở, chưa tạo thành một câu chuyện với hệ thống chi tiết cùng hướng về một ý.
Câu 3: Bức tượng phụ nữ bịt mắt, tay cầm cân, tay cầm kiếm đặt trước tòa án có phải là phúng dụ không, vì sao?
Đáp án: Có. Người phụ nữ là nhân cách hóa ý niệm công lí; cái cân là sự cân nhắc, thanh kiếm là sức mạnh của pháp luật, đôi mắt bịt kín là sự không thiên vị. Mỗi chi tiết mang một nghĩa thứ hai và cùng hợp lại thành một thông điệp.
Câu 4: Một bạn cho rằng “phúng dụ là văn châm biếm”. Ý kiến đó đúng hay sai?
Đáp án: Chưa đúng. Phúng dụ là cách tổ chức nghĩa hai tầng, có thể nghiêm trang như ngụ ngôn hang động của Plato. Châm biếm, trào phúng là giọng điệu. Một tác phẩm có thể có cả hai, nhưng không phải phúng dụ nào cũng gây cười.
Phúng dụ qua mấy cách gọi tên
Phúng dụ tiếng Anh là gì?
Là allegory. Tính từ là allegorical (mang tính phúng dụ). Một số sách dịch allegory thành “ngụ ngôn” hay “truyện ngụ ý”, ví dụ “ngụ ngôn hang động”.
Phúng dụ có phải là biện pháp tu từ không?
Có thể coi đây là một thủ pháp chuyển nghĩa, nhưng ở quy mô lớn hơn các phép tu từ quen thuộc trong sách giáo khoa. Vì thế nó thường được bàn trong lí luận văn học hơn là trong phần tiếng Việt.
Truyện ngụ ngôn và phúng dụ có phải là một?
Không hẳn. Ngụ ngôn là một thể loại; phúng dụ là thủ pháp mà ngụ ngôn hay dùng. Ngoài ngụ ngôn, phúng dụ còn có trong tiểu thuyết, thơ, tranh, tượng. Đặc trưng của thể loại xem ở bài đặc điểm truyện ngụ ngôn trong SGK.
Phúng dụ và phúng điếu có liên quan gì không?
Chỉ giống âm. Chữ phúng trong phúng điếu khi đi viếng tang viết là 賵, chỉ đồ tặng nhà có người mất, khác hẳn chữ 諷 nói bóng gió trong phúng dụ.