Soạn bài Hội thi thổi cơm giúp em hoàn thành phần chuẩn bị, bảy câu hỏi trong khi đọc và sáu câu hỏi cuối bài ở trang 106 – 108, Bài 5 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 7 Cánh diều tập một. Văn bản giới thiệu luật chơi độc đáo của bốn hội thi nấu cơm ở các làng quê phía Bắc và miền Trung, là ví dụ tiêu biểu cho kiểu bài giới thiệu quy tắc, luật lệ trong một hoạt động.
Tìm hiểu chung về văn bản Hội thi thổi cơm
Nắm trước nguồn, kiểu văn bản và cách chia phần sẽ giúp em trả lời các câu hỏi dễ dàng hơn.

- Xuất xứ: văn bản không ghi tên người viết; theo tài liệu tham khảo, nguồn là trang dulichvietnam.org.vn.
- Kiểu văn bản: văn bản thông tin giới thiệu quy tắc, luật lệ của một hoạt động (trò chơi, cuộc thi dân gian).
- Cách trình bày: có nhan đề, sa pô in đậm, bốn tiêu đề nhỏ (mỗi tiêu đề là một địa phương) và một bức ảnh minh họa.
Tóm lược nội dung văn bản
Mở đầu, bài viết cho biết không ít làng quê phía Bắc và miền Trung có lệ thi nấu cơm trong ngày hội, mỗi nơi một luật riêng. Tại Thị Cấm, các đội mười người phải đi từ hạt thóc đến nồi cơm chín qua ba chặng: biến thóc thành gạo, kiếm lửa cùng nước, sau cùng mới nấu; nồi cơm thắng cuộc được dâng cúng thần. Ở làng Chuông (Hà Nội), phụ nữ vừa nấu vừa phải trông một em bé và giữ một con cóc trong vòng tròn nhỏ, còn nam giới bơi thuyền sang bờ bên kia rồi nấu cơm ngay trên thuyền. Ở Từ Trọng thuộc đất Thanh Hóa, mọi người ngồi trên thuyền thúng giữa đầm lộng gió để nấu. Ở Hành Thiện (Nam Định), từng cặp nam giới vừa đi quanh sân đình vừa nấu niêu cơm treo trên ngọn tre. Điểm chung của các nơi: nồi cơm nào chín sớm, dẻo và ngon nhất sẽ giành phần thắng.
Soạn bài Hội thi thổi cơm – Chuẩn bị (trang 106)
Phần chuẩn bị yêu cầu em đọc trước văn bản và tìm hiểu thêm về các hội thi trong đời sống. Dưới đây, yêu cầu được tách thành hai câu.
Câu 1: Tìm hiểu thêm về các hội thi dân gian khác (trang 106)
Đọc trước văn bản Hội thi thổi cơm; tìm hiểu thêm thông tin (qua sách, báo, Internet, thực tế,…) về các hội thi dân gian khác trong đời sống.
Trả lời:
Gợi ý – hội đánh đu ngày xuân: Đu thường được dựng bằng những cây tre cao ở sân đình dịp đầu xuân. Người chơi đứng trên bàn đu, có khi đu đơn, có khi đu đôi nam nữ, dùng sức chân nhún để đưa đu bay lên cao. Ở nhiều nơi, người ta treo một vật làm mốc trên cao; ai đu chạm được mốc hoặc đưa đu lên cao, đều và đẹp nhất là thắng. Hội thi vừa đòi hỏi sức khỏe, sự khéo léo, vừa cần hai người phối hợp ăn ý.
Ngoài ra, em có thể tìm hiểu thêm: hội đua thuyền, hội vật, kéo co, ném còn, chọi gà, cờ người…
Câu 2: Kể tên hội thi dân gian, hiện đại; vì sao cần luật lệ (trang 106)
Kể tên một số hội thi dân gian và hiện đại mà em biết. Tìm hiểu tại sao lại phải có quy tắc, luật lệ trong các hội thi, trò chơi.
Trả lời:
- Hội thi dân gian: đua thuyền, vật, kéo co, đánh đu, ném còn, bịt mắt bắt dê, cờ người.
- Hội thi hiện đại: thi hùng biện, thi khoa học kĩ thuật, Rung chuông vàng, các giải thể thao học sinh.
- Vì sao cần quy tắc, luật lệ: để mọi người chơi biết rõ mình được làm gì, không được làm gì; bảo đảm công bằng giữa các đội; có căn cứ để chấm điểm, phân định thắng thua; giữ trật tự, an toàn và giúp hội thi giữ được nét riêng, nét đẹp truyền thống.
Soạn bài Hội thi thổi cơm – Câu hỏi trong khi đọc (trang 106 – 108)
Bảy câu hỏi bên lề giúp em theo dõi cách văn bản trình bày luật thi của từng nơi.
Câu 1: Vì sao đoạn mở đầu in đậm? Nội dung chính là gì? (trang 106)
Tại sao đoạn mở đầu được in đậm? Nội dung chính của đoạn này là gì?
Trả lời:
- Phần đầu in đậm chính là sa pô – phần tóm lược nằm ngay dưới nhan đề, giúp người đọc nắm ý chính và thấy tò mò muốn đọc tiếp.
- Nội dung: giới thiệu chung rằng một số làng phía Bắc và miền Trung có tục thi nấu cơm vào dịp lễ hội, mỗi nơi có luật lệ, đặc trưng riêng.
Câu 2: Bức ảnh minh họa cho nội dung gì? (trang 106)
Trả lời:
Bức ảnh ghi lại cảnh người dự thi đang nhóm lửa, đun nấu trong một hội thi thổi cơm. Ảnh giúp người đọc hình dung cụ thể không khí khẩn trương của cuộc thi và công đoạn khó khăn nhất là tạo lửa.
Câu 3: Chú ý các tiêu đề nhỏ được in đậm (trang 106)
Trả lời:
Văn bản có bốn tiêu đề nhỏ, mỗi tiêu đề gọi tên một hội thi gắn với một địa phương:
- Thi nấu cơm ở hội Thị Cấm (Từ Liêm – Hà Nội).
- Thi nấu cơm ở hội làng Chuông (Hà Nội).
- Thi nấu cơm ở hội Từ Trọng (Hoằng Hóa – Thanh Hóa).
- Thi nấu cơm ở hội Hành Thiện (Nam Định).
Nhờ các tiêu đề, người đọc biết ngay văn bản giới thiệu mấy hội thi và có thể tìm nhanh phần mình quan tâm.
Câu 4: Chú ý quy định trong mỗi bước của cuộc thi (trang 107)
Trả lời:
| Bước (hội Thị Cấm) | Quy định |
|---|---|
| Bước 1: làm gạo | Nghe trống lệnh, các đội tự xay, giã, giần, sàng thóc; đội có gạo trắng sớm nhất thắng bước này. |
| Bước 2: tạo lửa, lấy nước | Cọ hai thanh nứa già để lấy lửa, mồi vào rơm khô; một người chạy đi lấy nước ở chỗ cách khoảng 1 ki-lô-mét. Đội nào có lửa và mang nước về trước thì thắng. |
| Bước 3: thổi cơm | Đội nấu xong trước, cơm chín dẻo, ngon là đội thắng; cơm của đội ấy được đem cúng thần. |
Câu 5: Điểm giống và khác của hội thi làng Chuông với nơi khác (trang 107)
Chú ý những điểm giống nhau và khác nhau của hội thi ở làng Chuông với các nơi khác.
Trả lời:
- Giống: người thi đều phải tự nhóm lửa và nấu giữa nhiều trở ngại; ai có cơm chín sớm, dẻo, ngon thì thắng.
- Khác: làng Chuông chia thành hai cuộc thi riêng cho nữ và nam với thử thách rất lạ. Phụ nữ nấu bên trong một vòng tròn rộng 1,5 mét, vừa phải dỗ cho một em bé chừng 7 – 8 tháng (con nhà người khác) khỏi khóc và canh một con cóc không cho nhảy ra ngoài, thời gian tính bằng một nén hương. Nam giới dùng tay chèo thuyền nan sang bờ đối diện rồi nấu nướng ngay trên chiếc thuyền chòng chành, dù hai tay ướt sũng vẫn phải nhóm cho được lửa.
Câu 6: Địa điểm hội thi ở Từ Trọng có gì đặc biệt? (trang 107)
Trả lời:
Cuộc thi diễn ra trên mặt nước: mỗi người ngồi trên một chiếc thuyền thúng, chèo ra giữa một cái đầm rộng, gió thổi mạnh. Thuyền tròng trành, rơm ẩm, bã mía còn tươi nên lửa rất khó cháy; có năm còn gặp cả mưa phùn, gió bấc. Địa điểm này khiến việc nấu cơm khó khăn gấp bội.
Câu 7: Người dự thi và cách thi ở Hành Thiện có gì đặc biệt? (trang 108)
Trả lời:
- Thành phần: riêng nam giới, ghép thành từng cặp.
- Cách thi: một người đeo cành tre sau lưng, ngọn vươn cao quá đầu, trên ngọn treo niêu cơm; người kia lo đánh lửa bằng hai thanh nứa, châm đuốc hơ dưới đáy niêu. Hai người vừa nấu vừa đi vòng quanh sân đình cho đến khi tàn một tuần hương.
Soạn bài Hội thi thổi cơm – Câu hỏi cuối bài (trang 108)
Sáu câu hỏi cuối bài giúp em nắm bố cục, cách sắp xếp thông tin và mục đích của văn bản.
Câu 1: Bố cục, thông tin từng phần và thông tin quan trọng nhất (trang 108)
Chỉ ra bố cục của văn bản Hội thi thổi cơm. Mỗi phần của văn bản cung cấp cho người đọc thông tin gì? Theo em, thông tin nào là quan trọng nhất? Vì sao?
Trả lời:
| Phần | Thông tin cung cấp |
|---|---|
| Phần 1: sa pô | Giới thiệu chung về tục thi nấu cơm trong lễ hội ở miền Bắc, miền Trung. |
| Phần 2: hội Thị Cấm | Nguồn gốc (diễn lại tích tướng Phan Tây Nhạc thời vua Hùng thứ 18 luyện quân), thể lệ và ba bước thi. |
| Phần 3: hội làng Chuông | Luật thi riêng cho nữ và cho nam. |
| Phần 4: hội Từ Trọng | Thi nấu trên thuyền thúng giữa đầm. |
| Phần 5: hội Hành Thiện | Từng cặp nam vừa đi vừa nấu niêu cơm treo trên ngọn tre. |
Thông tin quan trọng nhất: theo em là luật thi, cách thi ở từng địa phương. Đây là phần chiếm nhiều dung lượng nhất, làm nên nét độc đáo của mỗi hội thi và đúng với mục đích của kiểu văn bản giới thiệu quy tắc, luật lệ.
Câu 2: Trật tự sắp xếp thông tin và hiệu quả (trang 108)
Các thông tin trong văn bản được sắp xếp theo trật tự nào? (Gợi ý: trật tự thời gian, quan hệ nguyên nhân – kết quả, mức độ quan trọng hoặc các đối tượng được phân loại). Cách sắp xếp thông tin đó tạo ra hiệu quả như thế nào?
Trả lời:
- Trật tự chung: sắp xếp theo cách phân loại đối tượng – mỗi hội thi ở một địa phương là một mục riêng có tiêu đề.
- Trong từng mục: thông tin đi theo trình tự thời gian của cuộc thi, từ chuẩn bị, hiệu lệnh, các bước thực hiện đến lúc phân định thắng thua (rõ nhất ở ba bước của hội Thị Cấm).
- Hiệu quả: người đọc dễ theo dõi, dễ so sánh các hội thi với nhau, thấy được cái chung (thi nấu cơm) và nét riêng của từng làng.
Câu 3: Điểm giống và khác giữa các hội thi (trang 108)
Chỉ ra những điểm giống nhau và khác nhau trong hội thi thổi cơm của các địa phương được nói tới trong văn bản.
Trả lời:
Giống nhau: đều là thi nấu cơm trong ngày hội làng; người thi phải tự tạo lửa và vượt qua thử thách; tiêu chí thắng là cơm chín đều, dẻo, ngon và xong sớm.
Khác nhau:
| Hội thi | Người thi | Nơi thi | Thử thách riêng |
|---|---|---|---|
| Thị Cấm | Mỗi đội 10 người, có nam có nữ | Trên bờ | Tự làm gạo từ thóc, tạo lửa, chạy đi lấy nước rồi mới nấu |
| Làng Chuông | Thi riêng nữ, thi riêng nam | Nữ: trong vòng tròn; nam: trên thuyền nan | Nữ trông trẻ và giữ cóc; nam bơi thuyền, nấu khi tay ướt, thuyền chòng chành |
| Từ Trọng | Mỗi người một thuyền | Thuyền thúng giữa đầm | Gió lộng, chất đốt ẩm, thuyền bồng bềnh |
| Hành Thiện | Chỉ nam, từng cặp hai người | Quanh sân đình | Niêu treo trên ngọn tre, vừa đi vừa nấu, hết một tuần hương |
Câu 4: Mục đích của văn bản và cách người viết đạt mục đích (trang 108)
Mục đích của văn bản Hội thi thổi cơm là gì? Phân tích một số nội dung cụ thể trong văn bản để thấy người viết đã đạt được mục đích đó.
Trả lời:
- Mục đích: giới thiệu với người đọc luật lệ, cách thức và nét độc đáo của hội thi thổi cơm ở một số địa phương.
- Cách đạt mục đích:
- Mỗi hội thi đều có thông tin về người dự thi, dụng cụ, thời gian, các bước và tiêu chí thắng cuộc; ví dụ ở Thị Cấm, ba bước được kể tuần tự, có quy định rõ ai thắng ở từng bước.
- Người viết dùng số liệu cụ thể (đội 10 người, nguồn nước cách khoảng 1 ki-lô-mét, vòng tròn 1,5 mét, em bé 7 – 8 tháng tuổi) khiến luật thi rõ ràng, đáng tin.
- Các thử thách lạ (giữ cóc, nấu trên thuyền thúng, niêu treo trên ngọn tre) được nêu bật, giúp người đọc thấy sự phong phú của hội thi.
Câu 5: Em hiểu thêm gì? Luật thi thú vị ở một địa phương (trang 108)
Văn bản trên giúp em hiểu thêm điều gì về hội thi thổi cơm? Hãy chỉ ra luật thi và cách thi thổi cơm của một địa phương được nêu trong văn bản mà em thấy thú vị.
Trả lời:
- Điều em hiểu thêm: thổi cơm vốn là việc thường ngày, nhưng khi trở thành hội thi, ông cha ta đã đặt ra nhiều luật lệ khéo léo để thử tài khéo tay, nhanh nhẹn, bình tĩnh và tinh thần đồng đội. Một số hội thi còn gắn với tích xưa, như hội Thị Cấm diễn lại chuyện luyện quân của tướng Phan Tây Nhạc.
- Luật thi em thấy thú vị – cuộc thi của nữ ở làng Chuông: người thi đứng trong vòng tròn nhỏ, vừa nấu cơm vừa giữ cho đứa trẻ không khóc, vừa canh để con cóc không nhảy ra ngoài, tất cả trong thời gian một nén hương. Em thấy luật thi này vừa vui vừa ý nghĩa, vì nó tôn vinh sự đảm đang, tháo vát của người phụ nữ – vừa lo bếp núc, vừa chăm con, vừa quán xuyến mọi việc.
Câu 6: Nếu vẽ thêm minh họa, em chọn nội dung nào? (trang 108)
Văn bản Hội thi thổi cơm chỉ có một ảnh minh họa. Nếu vẽ thêm minh họa cho bài viết, em sẽ chọn nội dung nào? Vì sao em lại chọn nội dung đó để vẽ?
Trả lời:
Gợi ý: Em sẽ vẽ cảnh thi nấu cơm ở hội Hành Thiện: một chàng trai đeo cành tre uốn cong sau lưng, ngọn tre treo lủng lẳng chiếc niêu đất, người bạn cùng đội vừa bước theo vừa giơ đuốc sưởi nóng đáy niêu, xung quanh là sân đình đông người cổ vũ. Em chọn cảnh này vì nó lạ và khó hình dung nhất nếu chỉ đọc chữ; có tranh minh họa, người đọc sẽ hiểu ngay cách thi và cảm nhận được không khí vui nhộn của hội làng.
Kết luận
Qua bài soạn, em thấy Hội thi thổi cơm là văn bản thông tin trình bày rõ ràng luật lệ của bốn hội thi nhờ sa pô, tiêu đề nhỏ, trình tự các bước và số liệu cụ thể. Văn bản giúp em hiểu và thêm yêu một nét đẹp văn hóa của làng quê Việt Nam. Trong cùng Bài 5, em có thể học tiếp văn bản Ca Huế.
Xem thêm:
- Soạn bài Ca Huế (Ngữ văn 7 Cánh diều)
- Ca Huế: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Hội thổi cơm thi ở Đồng Vân (đây là một văn bản khác, kể về tục thổi cơm thi của làng Đồng Vân)