Ở nghĩa trang Riverside, thành phố Ê-sơ-vin (Mỹ), người ta vẫn thường thấy vài đồng xu lẻ đặt trên một ngôi mộ, cộng lại đúng 1,87 đô-la, số tiền cô Đen-la dành dụm được ở đầu truyện Món quà của các đạo sĩ. Chủ nhân ngôi mộ là O. Hen-ri. O. Hen-ri (O. Henry, tên thật William Sydney Porter, 1862 – 1910) là nhà văn Mỹ, bậc thầy truyện ngắn với những cái kết bất ngờ, tác giả của Chiếc lá cuối cùng mà học sinh Việt Nam gặp trong sách Ngữ văn 6, 8 và 9. Trước khi nổi tiếng, ông từng là dược sĩ, người chăn cừu, thủ quỹ ngân hàng và cả một tù nhân.
Dược sĩ, người chăn cừu, thủ quỹ: những nghề trước khi viết văn

| Tên thật | William Sidney Porter (năm 1898 ông đổi cách viết tên đệm thành Sydney) |
| Bút danh | O. Henry; SGK phiên âm O. Hen-ri (sách Kết nối tri thức viết O. Hen-ry) |
| Năm sinh – năm mất | 11/9/1862 – 5/6/1910 |
| Quê quán | Grin-xbơ-rô (Greensboro), bang Bắc Ca-rô-lai-na, Mỹ |
| Thể loại | Truyện ngắn (vài trăm truyện), một cuốn sách gồm các truyện nối nhau, thơ, bài báo |
| Tác phẩm tiêu biểu | Món quà của các đạo sĩ, Chiếc lá cuối cùng, Viên cảnh sát và bài thánh ca, Tù trưởng Da đỏ, tập Bắp cải và vua chúa (1904), Bốn triệu người (1906) |
| Trong SGK hiện hành | Chiếc lá cuối cùng (Ngữ văn 6 CTST, Ngữ văn 8 KNTT, Ngữ văn 9 Cánh diều) |
Cậu bé Will Porter mất mẹ năm lên ba. Hai cha con dọn về ở với bà nội; người dạy chữ cho cậu là bà cô Evelina Porter, chủ một trường tiểu học nhỏ ở Grin-xbơ-rô. Đó gần như là toàn bộ quãng học chính quy của ông. Bù lại, cậu đọc ngấu nghiến, từ truyện rẻ tiền đến Nghìn lẻ một đêm.
Năm 1879 cậu vào làm ở hiệu thuốc của ông chú, và ngày 30/8/1881, ở tuổi 19, được cấp giấy phép hành nghề dược sĩ. Khách đến hiệu thuốc hay bị cậu ký họa lại: tài vẽ tranh biếm là năng khiếu đầu tiên người ta nhận ra ở Will, trước cả tài viết.
Một trận ho kéo dài khiến gia đình lo cậu mắc bệnh phổi. Tháng 3/1882, Will theo một người quen sang Tếch-dát (Texas), sống hai năm ở trang trại nuôi cừu của nhà Hall tại hạt La Salle. Ở đó cậu chăn cừu, nấu ăn, trông trẻ, học lõm bõm tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức của những người làm thuê, và theo Hội Lịch sử bang Tếch-dát, cuốn từ điển Webster là bạn đồng hành không rời. Những chàng cao bồi, những viên kiểm lâm Texas về sau bước thẳng vào truyện của ông.
Năm 1884 ông dọn về thủ phủ Ô-xtin (Austin), làm đủ việc: bán thuốc, bán xì gà, vẽ bản đồ cho Sở Địa chính bang (1887 – 1891), rồi làm thủ quỹ kiêm kế toán ở Ngân hàng Quốc gia Thứ nhất Ô-xtin. Ông chơi ghi-ta, hát trong một nhóm tứ ca chuyên đi hát dạo cho các cô gái trong thành phố. Năm 1887 ông cưới Athol Estes, một cô gái mười bảy tuổi mà gia đình phản đối vì cô mắc bệnh lao. Con trai đầu mất vài giờ sau khi sinh; con gái Margaret ra đời năm 1889.
Vụ thiếu hụt ở ngân hàng Ô-xtin và nửa năm trốn sang Hôn-đu-rát
Ngân hàng nơi Porter làm việc được quản lý khá tùy tiện, và sổ sách của chính ông cũng cẩu thả. Năm 1894 ngân hàng cáo buộc ông biển thủ, ông mất việc nhưng chưa bị truy tố. Ông dồn sức cho tờ tuần báo trào phúng tự lập là The Rolling Stone, tờ báo sống chưa đầy một năm. Năm 1895 ông sang Hiu-xtơn viết chuyên mục cho tờ Houston Post, lương khởi điểm 25 đô-la một tháng; ông lấy đề tài bằng cách ngồi ở sảnh khách sạn, quan sát và bắt chuyện với người lạ, thói quen theo ông suốt đời viết văn.
Trong lúc đó, thanh tra liên bang kiểm tra ngân hàng cũ và tìm ra khoản thiếu hụt. Ông bị bắt; bố vợ đứng ra bảo lãnh. Tháng 7/1896, trên đường đến tòa, đến ga đổi tàu thì ông bỏ trốn: xuống Niu Oóc-lin-xơ rồi sang Hôn-đu-rát, nước khi ấy chưa có hiệp ước dẫn độ với Mỹ. Ông ở đó khoảng sáu tháng, kết bạn với cả một tay cướp tàu hỏa khét tiếng. Xứ sở nhiệt đới này về sau thành bối cảnh của Bắp cải và vua chúa (Cabbages and Kings, 1904), cuốn sách gồm những truyện nối nhau, nơi lần đầu xuất hiện cụm từ banana republic (cộng hòa chuối) để chỉ những nhà nước nhỏ bị các công ty nước ngoài chi phối.
Đầu năm 1897, nghe tin vợ bệnh nặng, ông quay về Ô-xtin ra trình diện. Athol mất ngày 25/7/1897. Tháng 2/1898, tòa tuyên ông phạm tội biển thủ 854,08 đô-la, mức án năm năm tù.
Ba năm trong nhà lao Ô-hai-ô và bí ẩn của bút danh
Ngày 25/3/1898, Porter vào nhà tù bang Ô-hai-ô ở Cô-lâm-bớt. Nhờ có giấy phép dược sĩ, ông được làm người trực thuốc ca đêm ở bệnh xá, có phòng riêng trong khu bệnh viện; theo Hội Lịch sử bang Tếch-dát, ông được đối xử như một nhân viên hơn là một phạm nhân. Thời gian rảnh ấy ông dùng để viết. Một người bạn ở Niu Oóc-lin-xơ chuyển bản thảo đến các tòa soạn, nên biên tập viên không hề biết tác giả đang ngồi tù. Hơn chục truyện ra đời trong tù dưới nhiều tên khác nhau, và tháng 12/1899, tạp chí McClure’s in truyện Chiếc tất Giáng sinh của Whistling Dick ký tên O. Henry.
Chữ O ấy từ đâu ra, đến nay vẫn chưa ai trả lời chắc chắn. Các giả thuyết thường được nhắc:
- Theo lời chính ông trả lời phỏng vấn báo New York Times năm 1909: ông và một người bạn mở trang tin xã hội trên báo, chọn họ Henry trong danh sách khách dự một buổi dạ hội, còn chữ O được chọn vì là chữ cái dễ viết nhất. Có lần một tờ báo hỏi O là gì, ông bảo đó là Olivier.
- Từ tên một cai ngục ở nhà tù Ô-hai-ô tên là Orrin Henry (theo nhà văn William Trevor).
- Từ tên nhà dược học Pháp Étienne Ossian Henry, có trong cuốn dược điển ông dùng hằng ngày ở bệnh xá nhà tù.
- Từ tiếng gọi con mèo của gia đình nhà Harrell ở Ô-xtin, theo Hội Lịch sử bang Tếch-dát.
Ngày 24/7/1901, ông được ra tù sớm vì cải tạo tốt, sau hơn ba năm. Người tù Porter ở lại phía sau song sắt; người bước ra đến Pít-xbơ-gơ đón cô con gái mười một tuổi là nhà văn O. Hen-ri.
Bốn triệu người: mười năm cuối ở Niu Oóc
Năm 1902 ông chuyển đến Niu Oóc cho gần các nhà xuất bản, và đây là quãng viết sung sức nhất. Từ năm 1903, ông ký hợp đồng mỗi tuần một truyện cho tờ phụ trương Chủ nhật của báo New York World. Số truyện ngắn ông viết ở thành phố này thường được thống kê là 381; Hội Lịch sử bang Tếch-dát ghi chung là hơn ba trăm.
Tên tập truyện Bốn triệu người (The Four Million, 1906) là một lời đáp hóm hỉnh. Giới thượng lưu Niu Oóc khi đó hay nhắc đến con số bốn trăm người đáng để ý trong thành phố; O. Hen-ri lấy con số dân số của cuộc điều tra, bốn triệu, làm cánh đồng cho truyện của mình. Nhân vật của ông là cô bán hàng, anh cảnh sát, người hầu bàn, gã lang thang, những đôi vợ chồng nghèo thuê phòng trọ. Ông gọi Niu Oóc là Bát-đa của đường xe điện ngầm, như thể thành phố hiện đại này cũng có nghìn lẻ một câu chuyện riêng.
Các tập sau nối tiếp nhau: Ngọn đèn đã tỉa bấc (The Trimmed Lamp, 1907) – tập có in Chiếc lá cuối cùng, Trái tim miền Tây (1907) gom các truyện Tếch-dát… Năm 1907 ông tái hôn với Sarah Lindsey Coleman, người bạn thời thơ ấu ở Bắc Ca-rô-lai-na. Nhưng ông uống rượu nặng, sức khỏe xuống dốc từ năm 1908; năm 1909 vợ bỏ đi. Ngày 5/6/1910, ông mất ở Niu Oóc vì xơ gan, biến chứng tiểu đường và bệnh tim, khi chưa tròn 48 tuổi. Truyện cuối cùng, Giấc mơ, viết cho tạp chí Cosmopolitan, còn dở dang.
Cái kết lật ngược – dấu tay của truyện O. Hen-ri
Người đọc nhận ra truyện O. Hen-ri ở đoạn cuối. Ông dẫn ta đi theo một hướng suốt cả truyện, rồi ở mấy dòng cuối mới lật tấm bài úp, và khi nhìn lại, mọi chi tiết trước đó đều đã chuẩn bị cho cú lật ấy. Ba truyện cho thấy rõ nhất kỹ thuật này:
| Truyện | Tình huống | Cú lật ở cuối |
|---|---|---|
| Món quà của các đạo sĩ | Đôi vợ chồng nghèo Đen-la và Gim muốn tặng quà Giáng sinh cho nhau | Vợ bán mái tóc để mua dây đeo đồng hồ; chồng bán đồng hồ để mua bộ lược chải tóc |
| Viên cảnh sát và bài thánh ca | Gã lang thang Xô-pi cố phạm lỗi để được vào tù tránh rét mùa đông | Đúng lúc anh ta quyết làm lại cuộc đời thì bị bắt vì tội lảng vảng |
| Tù trưởng Da đỏ | Hai tên bắt cóc một cậu bé để đòi tiền chuộc | Cậu bé quậy đến mức chính chúng phải trả tiền cho bố cậu để được trả con về |
Cái kết bất ngờ của ông hiếm khi chỉ là trò ảo thuật. Trong Món quà của các đạo sĩ, hai món quà thành vô dụng nhưng tình yêu thì được chứng minh trọn vẹn; trong Chiếc lá cuối cùng, điều bất ngờ là một sự hy sinh thầm lặng. Đằng sau giọng kể dí dỏm, hay chêm chữ và chơi chữ, là cái nhìn thương cảm dành cho những người nghèo ở thành phố lớn. Hồi ấy ông được gọi là câu trả lời của nước Mỹ cho Guy đơ Mô-pa-xăng, nhà văn Pháp cũng viết về người bình thường và cũng chuộng những kết thúc bất ngờ.
Giới phê bình thì không phải lúc nào cũng mặn mà. Theo Hội Lịch sử bang Tếch-dát, ông được công chúng yêu hơn được giới học thuật đánh giá, dù ai cũng thừa nhận đóng góp của ông cho truyện ngắn. Lời chê thường gặp là cái kết đôi khi quá khéo, nhân vật đôi khi chỉ là quân cờ phục vụ cú lật.
Chiếc lá cuối cùng trong sách giáo khoa
Chiếc lá cuối cùng (The Last Leaf) in lần đầu trên báo New York World ngày 15/10/1905, sau đó vào tập Ngọn đèn đã tỉa bấc năm 1907. Truyện diễn ra ở khu nghệ sĩ nghèo Grin-uých Vi-lít giữa một đợt dịch viêm phổi: cô họa sĩ trẻ Giôn-xi nằm bệnh, tin rằng mình sẽ chết khi chiếc lá thường xuân cuối cùng ngoài cửa sổ rụng xuống; người bạn Xiu và cụ họa sĩ già Bơ-men ở tầng dưới là hai người còn lại của câu chuyện.
| Bộ sách | Vị trí | Bài học trên Văn VN |
|---|---|---|
| Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, tập 2 | Bài 6 (Điểm tựa tinh thần), đọc mở rộng theo thể loại | Soạn bài Chiếc lá cuối cùng · Tóm tắt |
| Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 | Bài 6 (Chân dung cuộc sống), thực hành đọc | |
| Ngữ văn 9 Cánh diều, tập 1 | Bài 4 (Truyện ngắn), thực hành đọc hiểu |
Truyện được chọn vào ba bộ sách khác nhau, ở ba lớp khác nhau, vì nó dạy cùng lúc hai điều: cách một truyện ngắn giấu kín tình tiết quan trọng nhất đến phút cuối, và sức mạnh của niềm tin, của tình người giữa những con người chẳng có gì trong tay. Bản tiếng Việt trong sách giáo khoa là bản dịch còn được bảo hộ, nên muốn đọc trọn truyện, em nên dùng sách. Khi viết bài nghị luận, có thể tham khảo các mẫu mở bài Chiếc lá cuối cùng, kết bài Chiếc lá cuối cùng, và bài văn nghị luận Sức hấp dẫn của truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của Minh Khuê.
Giải thưởng mang tên ông và những đồng tiền 1,87 đô-la
Sau khi ông mất, tên O. Hen-ri được đặt cho một giải thưởng thường niên dành cho những truyện ngắn xuất sắc. Ở Ô-xtin, ngôi nhà ông từng sống thành Bảo tàng O. Hen-ri; tòa nhà từng là tòa án liên bang nơi ông bị kết án nay mang tên O. Henry Hall. Ở Grin-xbơ-rô có khách sạn, đại lộ và trường tiểu học mang tên ông. Bưu điện Mỹ phát hành tem kỷ niệm 150 năm ngày sinh của ông vào ngày 11/9/2012.
Ông còn được đọc rất nhiều ở Nga. Năm 1962, đạo diễn Leonid Gaidai dựng bộ phim hài Strictly Business (tên gọi trong tiếng Anh) từ ba truyện của ông, và bưu chính Liên Xô cũng in tem kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn.
Có một chuyện thuộc về pháp lý vẫn còn bỏ ngỏ. Năm 2012, hai người ở Mỹ nộp đơn xin tổng thống ân xá sau khi chết cho William Porter, lập luận rằng tội của ông nhẹ, hồ sơ trong tù tốt và cả quãng đời sau đó là minh chứng cho sự hoàn lương. Đến nay đơn vẫn chưa được chấp thuận. Còn người đọc thì đã tha thứ từ lâu, bằng những đồng xu lẻ đặt trên mộ ông ở Ê-sơ-vin, mà theo ban quản lý nghĩa trang, được góp vào quỹ cho các thư viện trong vùng.
Xem thêm: