Soạn bài Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái giúp em chuẩn bị bài và trả lời tám câu hỏi đọc hiểu bên lề cùng sáu câu hỏi sau khi đọc ở trang 107 – 112, Bài 4 (Văn bản thông tin), sách Ngữ văn 11 Cánh diều tập một. Văn bản là bài viết của nhà báo Hàm Châu khắc họa chân dung Giáo sư Tạ Quang Bửu, nhà trí thức lớn có học vấn rộng hiếm thấy và gắn bó trọn đời với đất nước.
Tìm hiểu chung về văn bản Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái
Những thông tin dưới đây giúp em nắm nhanh văn bản trước khi đi vào từng câu hỏi.

- Tác giả: Hàm Châu, nhà báo có nhiều bài viết về chân dung các nhà khoa học, trí thức Việt Nam.
- Xuất xứ: SGK dẫn theo cuốn Người tri thức quê hương, tập một (NXB Giáo dục, 2002); văn bản trong sách đã được lược bớt một số đoạn.
- Thể loại: văn bản thông tin viết về một nhân vật có thật, kết hợp kể chuyện, dẫn lời nhân chứng và bình luận.
- Nhân vật được giới thiệu: Giáo sư Tạ Quang Bửu, nhà toán học, nhà khoa học, người từng gánh nhiều trọng trách trong kháng chiến và trong ngành giáo dục; ông mất tháng 8 năm 1986.
- Bố cục: hai phần. Phần 1: tài năng, cách học, phong cách sống của ông, được kể qua nhiều câu chuyện và lời nhân chứng. Phần 2 (khoảng từ đoạn nói về cuốn sách Sống đến hết): những trang viết, tư tưởng và tình cảm ông để lại cho đời sau.
- Nội dung: cho thấy ông xứng đáng được gọi là bậc thông thái hiếm có, học rộng, tự học phi thường, giỏi nhiều ngoại ngữ, hiểu biết cả khoa học, nghệ thuật, thể thao, và dành cả đời phụng sự đất nước.
- Nghệ thuật: thông tin xác thực, mốc thời gian rõ; nhiều giai thoại sinh động; dẫn lời của các nhà khoa học trong và ngoài nước; giọng văn trân trọng, ngưỡng mộ.
Soạn bài Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái – Chuẩn bị (trang 107)
Trước khi đọc, SGK yêu cầu em tìm thêm tư liệu về nhân vật và về những tấm gương có phẩm chất tốt đẹp.
Câu 1: Đọc trước văn bản, tìm hiểu thêm các bài viết về Giáo sư Tạ Quang Bửu (trang 107)
Đọc trước văn bản Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái; tìm hiểu thêm các bài viết về Giáo sư Tạ Quang Bửu và những người khác tiêu biểu cho phẩm chất tốt đẹp của người Việt Nam.
Trả lời:
- Về Giáo sư Tạ Quang Bửu: em có thể tìm các bài báo viết nhân dịp kỉ niệm ngày sinh của ông (ông sinh năm 1910, quê Nghệ An), các bài giới thiệu ông với vai trò người đặt nền móng cho khoa học kĩ thuật quân sự, người lãnh đạo ngành đại học, hoặc thông tin về phố Tạ Quang Bửu ở Hà Nội và các giải thưởng khoa học mang tên ông.
- Về những tấm gương khác: bài viết về Giáo sư Trần Đại Nghĩa (người chế tạo vũ khí trong kháng chiến), Giáo sư Lê Văn Thiêm (nhà toán học nhắc đến trong văn bản), nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký, người tập viết chữ bằng chân, hay những bác sĩ, chiến sĩ, thầy cô bình dị nhưng tận tụy quanh em.
Câu 2: Chuẩn bị tư liệu về một người có phẩm chất, tính cách cao đẹp để giới thiệu (trang 107)
Hãy chuẩn bị những thông tin và tư liệu về một người có phẩm chất, tính cách cao đẹp mà em quen biết hoặc đọc qua sách, báo… để giới thiệu với các bạn trong lớp.
Trả lời:
Em nên chuẩn bị theo dàn ý:
- Người đó là ai, làm nghề gì, em biết đến họ qua đâu.
- Phẩm chất nổi bật nhất (chăm chỉ, dũng cảm, nhân hậu, ham học…) kèm hai, ba việc làm cụ thể minh chứng.
- Người xung quanh đánh giá họ ra sao (nếu có), hình ảnh hoặc số liệu đi kèm.
- Điều em học được từ người ấy.
Ví dụ: em có thể giới thiệu một bác sĩ ở bệnh viện huyện từng nhiều năm tình nguyện lên vùng cao khám bệnh miễn phí, hoặc một bạn học sinh vượt khó đạt giải học sinh giỏi.
Soạn bài Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái – Câu hỏi trong khi đọc (trang 107 – 111)
Tám câu hỏi bên lề giúp em theo dõi cách tác giả dựng chân dung nhân vật qua từng mặt.
Câu 1: Phần mở đầu nêu lên vấn đề gì? (trang 107)
Trả lời:
Phần mở đầu nêu một nhận định từng được đưa ra về Tạ Quang Bửu: “Tạ Quang Bửu là một Lê Quý Đôn thời nay.” Tác giả thận trọng cho rằng cần thêm thời gian để kiểm chứng, nhưng khẳng định nhận định ấy có cơ sở. Như vậy, vấn đề của cả bài là chứng minh sự uyên bác, thông thái của Tạ Quang Bửu, ngang tầm nhà bác học Lê Quý Đôn thời xưa.
Câu 2: Chú ý các lĩnh vực mà Giáo sư Tạ Quang Bửu hiểu biết (trang 108)
Trả lời:
- Toán học: đỗ chứng chỉ cử nhân toán ở Pháp trong kì thi chỉ bốn người đậu.
- Thể thao: chạy cự li ngắn đến dài, nhảy cao, nhảy xa, bơi vượt sông Xen, bóng bàn, đấm bốc, bóng đá; có cả bằng bơi do nước Anh cấp.
- Nghệ thuật: am hiểu kiến trúc, sành hội họa và âm nhạc, có thể hát Tụng ca Niềm vui bằng nguyên ngữ tiếng Đức; góp ý sâu sắc cho cuốn Lịch sử kiến trúc thế giới.
- Ngoại ngữ, tôn giáo: thuyết giảng bằng tiếng Anh về đạo Tin Lành ngay tại nước Anh.
Câu 3: Tại sao Tạ Quang Bửu lại tìm học chữ Hán? (trang 108)
Trả lời:
Khi về nước, ông nhận ra rằng không biết chữ Hán thì khó hiểu thấu văn hóa Việt Nam và văn hóa phương Đông. Vì thế, dù đã được đào tạo theo nền học vấn Pháp, ông vẫn kiên trì học loại chữ khó bậc nhất này, theo học cụ Phan Bội Châu, rồi đọc được các kinh điển như Luận ngữ, Mạnh Tử, Đạo đức kinh, thơ Đường trong nguyên bản. Chi tiết này cho thấy ông học để hiểu đến tận gốc, không chạy theo bằng cấp.
Câu 4: Điều gì khiến Giáo sư Lê Văn Thiêm kinh ngạc? (trang 109)
Trả lời:
Năm 1951, đến thăm Tạ Quang Bửu ở căn nhà lá giữa rừng Tuyên Quang, Giáo sư Lê Văn Thiêm ngạc nhiên vì thấy bạn mình, dù bận rộn việc kháng chiến, vẫn đều đặn đọc tài liệu chuyên môn bằng nhiều thứ tiếng. Ông kể: “tuy chìm ngập trong công việc, anh vẫn dành thì giờ đọc các sách, báo toán nổi tiếng qua tiếng Đức, tiếng Anh, tiếng Pháp”. Điều đáng nói là hoàn cảnh rừng núi thiếu thốn không làm gián đoạn niềm say mê học hỏi của ông.
Câu 5: Việc dẫn ra ý kiến của Chom-xki có ý nghĩa gì? (trang 110)
Trả lời:
Nô-am Chom-xki là nhà ngôn ngữ học người Mỹ, từng được một tạp chí lớn của Mỹ xếp vào hàng các nhà bác học hàng đầu thế kỉ XX. Ông từng nhiều lần trò chuyện với Tạ Quang Bửu và nhận xét: “Ông Tạ Quang Bửu là một người có trí thông minh ghê gớm.” Dẫn lời một học giả nước ngoài tầm cỡ như vậy giúp:
- Tăng tính khách quan: tầm trí tuệ của ông được công nhận cả ở tầm quốc tế, không chỉ do người trong nước ca ngợi.
- Củng cố nhận định ở phần mở đầu về một bậc thông thái.
Câu 6: Chú ý các bằng chứng về năng lực ngoại ngữ của Giáo sư Tạ Quang Bửu (trang 110)
Trả lời:
- Tiếng Nga: trong thời gian chuẩn bị cho Điện Biên Phủ, chỉ sau ba tháng tự học, ông đọc trôi chảy tài liệu tiếng Nga hướng dẫn dùng thiết bị ngắm của pháo phòng không do Liên Xô viện trợ, rồi dịch luôn sang tiếng Pháp cho ông Nguyễn Xuân Huy mang về hướng dẫn bộ đội.
- Tiếng Ba Lan: năm 1963, ông đọc thẳng công trình mới của nhà toán học Mi-ku-xin-xki rồi thuyết trình lại cho giảng viên toán các trường đại học tại Hà Nội.
- Tiếng Anh: sau Cách mạng tháng Tám, trên cương vị Tham nghị trưởng Bộ Ngoại giao, ông giúp Bác Hồ soạn công hàm gửi Xta-lin, Tru-man, At-li đồng thời tiếp xúc với giới ngoại giao Anh, Mỹ.
- Ngoài ra, ông còn đọc tài liệu bằng tiếng Pháp, tiếng Đức và chữ Hán.
Câu 7: Nội dung chính của phần 2 là gì? (trang 111)
Trả lời:
Phần 2 nói về những giá trị tinh thần Tạ Quang Bửu để lại: cuốn sách Sống in năm 1948 giữa chiến khu, dùng những phát minh mới của vật lí lượng tử lí giải hiện tượng sống; câu hỏi triết lí về việc làm gì trong lúc sống; những bản thảo dang dở khi ông qua đời năm 1986; tình cảm thương tiếc của bạn bè, đồng nghiệp và việc Hà Nội đặt tên phố theo tên ông.
Câu 8: Đoạn thơ dẫn ra trong phần cuối có tác dụng gì? (trang 111)
Trả lời:
Đoạn thơ trích từ bài Viếng Anh của Giáo sư Phan Đình Diệu, mở đầu bằng câu “Một khối nghĩ suy, một khối tình”. Đoạn thơ có tác dụng:
- Khái quát chân dung Tạ Quang Bửu: một trí tuệ lớn đi cùng một tấm lòng lớn với đất nước, con người.
- Bày tỏ niềm kính trọng, tiếc thương của thế hệ trí thức đi sau đối với ông.
- Làm cho phần kết giàu cảm xúc, khép lại bài viết thông tin bằng một nốt trầm lắng.
Soạn bài Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái – Câu hỏi sau khi đọc (trang 112)
Sáu câu hỏi sau khi đọc giúp em khái quát đề tài, cách triển khai, thái độ người viết và rút ra bài học.
Câu 1: Xác định đề tài, bố cục và nội dung chính mỗi phần (trang 112)
Xác định đề tài, bố cục và nội dung chính của mỗi phần trong văn bản Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái.
Trả lời:
- Đề tài: chân dung một nhà trí thức, nhà khoa học tiêu biểu của Việt Nam thế kỉ XX.
- Bố cục: hai phần.
- Phần 1: sự hiểu biết rộng ở nhiều lĩnh vực, cách học “để biết” và năng lực tự học, tài ngoại ngữ, những đóng góp của Tạ Quang Bửu, được chứng minh bằng các giai thoại và lời nhân chứng.
- Phần 2: di sản tinh thần ông để lại (cuốn Sống, những bản thảo dang dở), sự ra đi đột ngột và tình cảm của bạn bè, đồng nghiệp, xã hội dành cho ông.
Câu 2: Thống kê các nhân vật liên quan đến Tạ Quang Bửu và đặc điểm chung (trang 112)
Thống kê và tìm hiểu thông tin về các nhân vật liên quan đến Tạ Quang Bửu được tác giả Hàm Châu dẫn ra trong bài viết. Các nhân vật ấy có đặc điểm chung nào?
Trả lời:
| Nhân vật | Thông tin trong văn bản | Mối liên hệ với nhân vật |
|---|---|---|
| Đặng Thái Hoàng | Phó Giáo sư, con của nhà văn Đặng Thai Mai, tác giả cuốn Lịch sử kiến trúc thế giới | Nhờ ông góp ý bản thảo và phải sửa nhiều chỗ |
| Hoàng Xuân Tùy | Từng đứng đầu Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp | Nhận xét về cách học của ông |
| Nguyễn Xiển | Giáo sư, thầy dạy toán kì cựu | Đánh giá ông là nhà khoa học viết nhiều nhất thời kháng chiến |
| Lê Văn Thiêm | Giáo sư toán học | Kể chuyện ông đọc sách giữa rừng, ví khả năng tự học của bạn mình như “một thiên huyền thoại” |
| Nô-am Chom-xki | Nhà ngôn ngữ – toán học Mỹ nổi tiếng thế giới | Nhận xét về trí thông minh của ông |
| Nguyễn Xuân Huy | Cán bộ quân đội thời chống Pháp | Nhờ ông dịch tài liệu tiếng Nga |
| Mi-ku-xin-xki | Nhà toán học Ba Lan | Gửi ông kết quả nghiên cứu mới |
| Khương Hữu Dụng | Nhà thơ đất Quảng, bạn học ở Trường Quốc học Huế | Làm thơ thương tiếc người bạn |
| Phan Đình Diệu | Nhà toán học, giáo sư | Viết bài thơ Viếng Anh |
Ngoài ra, văn bản còn nhắc đến cụ Phan Bội Châu (người ông theo học chữ Hán) và các học giả Đào Duy Anh, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Khắc Viện, những người cũng tự học chữ Hán.
Đặc điểm chung: phần lớn là những nhà khoa học, học giả, trí thức có uy tín, từng gần gũi, cộng tác hoặc trò chuyện với Tạ Quang Bửu, nên lời nhận xét của họ đáng tin. Tất cả đều dành cho ông sự quý trọng, khâm phục.
Câu 3: Vấn đề được làm sáng tỏ, cách triển khai và tác dụng của việc trích dẫn (trang 112)
Văn bản tập trung làm sáng tỏ vấn đề gì? Tác giả đã triển khai bài viết bằng cách nào? Việc trích dẫn ý kiến của nhiều nhân vật trên đây có tác dụng gì?
Trả lời:
- Vấn đề: Tạ Quang Bửu đúng là bậc thông thái, học rộng, hiểu sâu, tự học phi thường và đem trí tuệ ấy phục vụ đất nước.
- Cách triển khai: mở đầu bằng một nhận định gây chú ý; sau đó lần lượt chứng minh qua từng phương diện (học vấn, thể thao, nghệ thuật, chữ Hán, sách vở, ngoại ngữ), mỗi phương diện gắn với giai thoại cụ thể, có thời gian, địa điểm; cuối cùng nói về di sản và tình cảm của người đời sau.
- Tác dụng của việc trích dẫn: lời kể của nhiều người, ở nhiều thời điểm, cả trong và ngoài nước, làm cho chân dung nhân vật khách quan, đáng tin; người viết không phải tự khen mà để sự thật và nhân chứng lên tiếng; bài viết cũng sinh động hơn nhờ giọng kể đa dạng.
Câu 4: Phân tích thái độ, tình cảm của người viết qua một số câu văn (trang 112)
Trả lời:
- Ngay từ đầu, tác giả bác bỏ ý nghĩ cho rằng nhận định so sánh Tạ Quang Bửu với Lê Quý Đôn là thêu dệt tùy tiện: người viết thận trọng nhưng tin tưởng vào tầm vóc nhân vật.
- Cách gọi “nhà thông thái của chúng ta” chứa đựng sự kính trọng và niềm tự hào, như thể Tạ Quang Bửu là tài sản chung của dân tộc.
- Câu “Giáo sư Tạ Quang Bửu đột ngột ngừng làm việc” dùng cách nói giảm, tránh nhắc thẳng đến bệnh tật và cái chết, thể hiện sự tiếc thương, nâng niu.
- Việc ghi lại cảnh tác giả ngồi đọc lại cuốn Sống hơn nửa thế kỉ sau và ngạc nhiên trước tầm nhìn của ông cho thấy sự khâm phục chân thành.
Nhìn chung, người viết dành cho nhân vật tình cảm trân trọng, ngưỡng mộ, tự hào và xót xa trước sự ra đi khi công việc còn dang dở.
Câu 5: Thông tin, nhận thức bổ ích và ví dụ về phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam (trang 112)
Văn bản mang lại cho em những thông tin và nhận thức bổ ích gì? Hãy nêu ra một ví dụ về phẩm chất cao đẹp của người Việt Nam mà em biết trong cuộc sống hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng.
Trả lời:
- Thông tin: em biết thêm về cuộc đời, học vấn và đóng góp của Giáo sư Tạ Quang Bửu, về một thế hệ trí thức sẵn sàng rời bỏ điều kiện sống đầy đủ để theo kháng chiến.
- Nhận thức: học là để hiểu biết thật sự chứ không chỉ để lấy điểm số; tự học là con đường quan trọng nhất; hiểu biết rộng chỉ có ý nghĩa khi được dùng để phục vụ cộng đồng.
- Ví dụ: trong những đợt lũ lớn ở miền Trung, rất nhiều người dân, sinh viên tình nguyện, chiến sĩ đã không quản nguy hiểm để đưa lương thực, cứu người mắc kẹt. Hình ảnh ấy thể hiện tinh thần tương thân tương ái, sẵn sàng hi sinh vì người khác, một phẩm chất đẹp của người Việt Nam.
Câu 6: Viết đoạn văn khoảng 10 – 12 dòng giới thiệu về Giáo sư Tạ Quang Bửu (trang 112)
Dựa vào thông tin từ văn bản trên, hãy viết đoạn văn (khoảng 10 – 12 dòng) giới thiệu về Giáo sư Tạ Quang Bửu.
Trả lời:
Đoạn văn tham khảo:
Giáo sư Tạ Quang Bửu, sinh năm 1910 và mất năm 1986, là một trong những trí thức uyên bác nhất của Việt Nam thế kỉ XX. Thời du học ở Pháp, ông đỗ cử nhân toán trong một kì thi chỉ bốn người đậu, đồng thời say mê hội họa, âm nhạc, nghệ thuật kiến trúc và chơi giỏi nhiều môn thể thao. Ông nổi tiếng với lối học vì muốn hiểu biết chứ không vì thi cử: về nước, ông tự học chữ Hán để hiểu cội nguồn văn hóa phương Đông; trong kháng chiến, giữa rừng Việt Bắc, ông vẫn đọc sách báo toán học viết bằng ba thứ tiếng châu Âu. Ông tự học tiếng Nga trong ba tháng để dịch tài liệu vũ khí cho bộ đội, đọc được cả tiếng Ba Lan, từng giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn công hàm bằng tiếng Anh. Những cuốn sách ông viết như Sống đã ảnh hưởng sâu sắc tới lớp trí thức trẻ thời ấy. Nhà nước truy tặng ông Giải thưởng Hồ Chí Minh, và tên ông được đặt cho một con phố ở Hà Nội. Cuộc đời Tạ Quang Bửu là tấm gương sáng về tinh thần tự học và lòng tận tụy với đất nước.
Kết luận
Qua văn bản Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái, nhà báo Hàm Châu đã dựng nên chân dung một bậc thông thái bằng những câu chuyện có thật và lời nhận xét của nhiều nhân chứng uy tín. Khi soạn bài, em cần nắm bố cục hai phần, cách triển khai thông tin theo từng phương diện, tác dụng của việc trích dẫn và thái độ trân trọng của người viết; qua đó tự rút ra bài học về cách học và cách sống.
Xem thêm: