Thơ Nguyễn Công Trứ là tiếng nói của một nhà nho có chí lớn, sống hết mình với lý tưởng “làm trai” nhưng cũng rất ngông, rất tự do. Ông là người có công lớn trong việc định hình thể hát nói, để lại những bài như Bài ca ngất ngưởng, Kẻ sĩ hay Chí khí anh hùng. Hãy cùng Văn VN điểm qua cuộc đời và những tác phẩm tiêu biểu của ông.
Đôi nét về tác giả Nguyễn Công Trứ
- Tên: Nguyễn Công Trứ, tự Tồn Chất, hiệu Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn.
- Năm sinh – mất: 1778 – 1858.
- Quê quán: làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra ở huyện Quỳnh Côi (Thái Bình), nơi thân phụ làm quan.
- Khoa cử: đỗ Giải nguyên khoa thi Hương năm Kỷ Mão (1819), khi đã 41 tuổi.
- Sự nghiệp: làm quan gần 30 năm qua ba triều Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức; từng giữ các chức Tham tán, Tổng đốc, Phủ doãn Thừa Thiên; là Dinh điền sứ chỉ huy khai hoang lập hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn.
- Thể loại sở trường: hát nói (ca trù), thơ Nôm Đường luật, lục bát, phú Nôm.

Con đường làm quan của Nguyễn Công Trứ nhiều thăng trầm hiếm có. Sau khi đỗ Giải nguyên, ông vào Sử quán rồi làm tri huyện, được thăng tiến nhờ tài năng nhưng cũng nhiều lần bị giáng chức, có lúc bị giáng xuống làm lính. Ông tham gia dẹp nhiều cuộc nổi dậy như Phan Bá Vành (1827), Nông Văn Vân (1833). Dấu ấn lớn nhất của ông là công cuộc khẩn hoang ven biển: tháng 10 năm 1828 lập huyện Tiền Hải, tháng 3 năm 1829 lập huyện Kim Sơn. Năm 1848, dưới triều Tự Đức, ông được về hưu; mười năm sau, khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, ông đã 80 tuổi vẫn xin ra trận nhưng không được chấp thuận vì tuổi cao.
Câu chuyện dẹp loạn của ông được kể lại trong bài Nguyễn Công Trứ và câu chuyện dẹp loạn Phan Bá Vành. Cuộc đời hành động ấy chính là chất liệu cho thơ ông: một hồn thơ vừa hăm hở lập công danh, vừa phóng khoáng, coi thường khen chê.
Xem tiểu sử tác giả Nguyễn Công Trứ – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Nguyễn Công Trứ có những tác phẩm nào?
Thơ văn Nguyễn Công Trứ chủ yếu viết bằng chữ Nôm, được truyền tụng và chép lại qua nhiều dị bản. Có thể chia thành các nhóm sau:

Hát nói (ca trù)
- Bài ca ngất ngưởng
- Kẻ sĩ
- Chí làm trai (sách Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo in với nhan đề Chí khí anh hùng)
- Nợ tang bồng, Chí nam nhi, Phận sự làm trai
- Cầm kỳ thi tửu
Thơ Đường luật chữ Nôm
- Đi thi tự vịnh
- Vịnh cây vông
- Vịnh cảnh nghèo, Than cảnh nghèo
Lục bát, phú
- Vịnh cây thông (lục bát)
- Hàn nho phong vị phú (phú Nôm)
Những bài thơ tiêu biểu của Nguyễn Công Trứ
Nguyễn Công Trứ mất năm 1858 nên thơ văn của ông đã thuộc phạm vi công cộng. Các bài dưới đây được chép theo bản trên Wikisource tiếng Việt và Thi Viện; do thơ Nôm truyền chép nhiều dị bản, câu chữ có thể khác đôi chút so với sách giáo khoa.
1/ Bài ca ngất ngưởng
Bài hát nói nổi tiếng nhất của Nguyễn Công Trứ, thường được cho là viết sau năm 1848, khi ông đã cáo quan về hưu. Hiện bài được học trong sách Ngữ văn 11 (Kết nối tri thức).
Vũ trụ nội mạc phi phận sự,
Ông Hy Văn tài bộ đã vào lồng.
Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.
Lúc bình Tây, cờ đại tướng.
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên,
Đô môn giải tổ chi niên,
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Kìa núi nọ phau phau mây trắng,
Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi.
Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.
Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phơi phới ngọn đông phong.
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng,
Không Phật, không Tiên, không vướng tục.
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Lời bình:
Chữ “ngất ngưởng” lặp lại bốn lần trong bài (chưa kể nhan đề) như một điệp khúc, vừa tả dáng cao chênh vênh, vừa tự họa một lối sống ngang tàng, vượt khuôn phép. Nửa đầu bài là bản tổng kết công trạng (Thủ khoa, Tham tán, Tổng đốc, bình Tây, Phủ doãn); nửa sau là cuộc sống hưu quan tự do: cưỡi bò vàng đeo đạc ngựa, lên chùa có “một đôi dì” theo sau, “được mất dương dương”, “khen chê phơi phới”. Câu kết “Trong triều ai ngất ngưởng như ông!” vừa tự hào vừa thách thức, cho thấy bản lĩnh của một nhà nho dám sống thật với mình mà vẫn giữ trọn “nghĩa vua tôi”.
Đọc thêm: Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ) · Soạn bài Bài ca ngất ngưởng lớp 11 Kết nối tri thức · Phân tích Bài ca ngất ngưởng · Tác giả, tác phẩm Bài ca ngất ngưởng.
2/ Chí khí anh hùng (Chí làm trai)
Bài hát nói này được sách Ngữ văn 11 (Chân trời sáng tạo) chọn làm văn bản đọc kết nối chủ điểm với nhan đề Chí khí anh hùng; nhiều tuyển tập và Wikisource ghi là Chí làm trai.
Vòng trời đất dọc ngang, ngang dọc;
Nợ tang bồng vay trả, trả vay.
Chí làm trai nam, bắc, đông, tây,
Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể.
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã hẳn rằng ai nhục, ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng khi vị ngộ.
Cũng có lúc mưa dồn sóng vỗ
Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong.
Chí những toan xẻ núi, lấp sông,
Làm nên tiếng phi thường đâu đấy tỏ,
Đường mây rộng thênh thênh cử bộ,
Nợ tang bồng trang trắng vỗ tay reo.
Thảnh thơi thơ túi, rượu bầu.
Lời bình:
Không gian mở đầu là “vòng trời đất”, “nam, bắc, đông, tây”, “bốn bể” – một không gian rộng tương xứng với cái chí muốn “vẫy vùng”. Hai câu chữ Hán mượn thơ Văn Thiên Tường (người ta sinh ra xưa nay ai không chết, hãy để lại tấm lòng son soi sử xanh) nâng lý tưởng lập công lên thành lẽ sống. Câu kết “Thảnh thơi thơ túi, rượu bầu” cho thấy quan niệm quen thuộc của ông: trả xong “nợ tang bồng” rồi mới thong dong hưởng nhàn.
Đọc thêm: Soạn bài Chí khí anh hùng lớp 11 Chân trời sáng tạo · Chí khí anh hùng – tác giả tác phẩm · Chí làm trai (Nguyễn Công Trứ).
3/ Vịnh cây vông
Bài thất ngôn bát cú Đường luật mang giọng trào phúng, hiện là văn bản thực hành đọc trong sách Ngữ văn 8 (Kết nối tri thức). Tương truyền bài thơ được làm trong một bữa tiệc, nhằm châm biếm vị quan Hà Tôn Quyền dưới triều Minh Mạng.
Biền, nam, khởi, tử, chẳng vun trồng,
Cao lớn làm chi những thứ vông.
Tuổi tác càng già, già xốp xáp,
Ruột gan không có, có gai chông.
Ra tài lương đống không nên mặt,
Dựa chốn phiên ly chút đỡ lòng.
Đã biết nòi nào thì giống nấy,
Khen cho rứa cũng trổ ra bông!
Lời bình:
“Biền, nam, khởi, tử” là bốn loại gỗ quý, được đặt cạnh cây vông – thứ gỗ xốp, ruột rỗng, nhiều gai – để làm nổi bật sự vô dụng. Cây vông “cao lớn” mà không làm được “lương đống” (rường cột), chỉ đứng làm “phiên ly” (hàng rào): đó là hình ảnh ẩn dụ cho hạng quan lại bất tài mà vẫn phô trương. Câu cuối “Khen cho rứa cũng trổ ra bông!” là lời mỉa mai sắc sảo, đúng chất tiếng cười trào phúng của nhà nho.
Đọc thêm: Soạn bài Vịnh cây vông lớp 8 Kết nối tri thức · Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng.
4/ Đi thi tự vịnh
Bài thất ngôn bát cú được cho là viết thuở hàn vi, khi ông lều chõng đi thi. Hai câu luận là một trong những tuyên ngôn nổi tiếng nhất của Nguyễn Công Trứ.
Đi không há lẽ trở về không,
Cái nợ cầm thư phải trả xong.
Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt,
Trót đem thân thế hẹn tang bồng.
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Trong cuộc trần ai, ai dễ biết?
Rồi ra mới rõ mặt anh hùng.
Lời bình:
“Nợ cầm thư” (nợ đàn sách, tức nợ học hành khoa cử) và “tang bồng” (chí nam nhi) cho thấy ông coi công danh là món nợ phải trả với đời. Hai câu “Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông” khẳng định trách nhiệm của kẻ sĩ; câu kết tin chắc rằng lúc còn “trần ai” chưa ai biết, nhưng rồi sẽ “rõ mặt anh hùng”. Đọc thêm: Đi thi tự vịnh (Nguyễn Công Trứ).
5/ Kẻ sĩ
Bài hát nói dài bàn về vị trí và bổn phận của người trí thức nho học. Mở đầu bằng hai câu chữ Hán: tước có năm bậc, kẻ sĩ dự vào hàng ấy; dân có bốn hạng, kẻ sĩ đứng đầu.
Tước hữu ngũ, sĩ cư kỳ liệt,
Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên.
Có giang sơn thì sĩ đã có tên;
Từ Chu Hán vốn sĩ nay là quí.
Lời bình:
Kẻ sĩ trong bài phải giữ “cương thường”, nuôi “khí hạo nhiên”, lúc chưa gặp thời thì ẩn nhẫn như Lã Vọng câu cá bên sông Vị, gặp thời thì ra làm “lương đống” trong triều, dẹp giặc ngoài biên. Khi nước nhà yên ổn mới lui về vui “thơ, rượu, địch, đàn”. Bài thơ là bản tổng hợp quan niệm “hành – tàng” của Nguyễn Công Trứ và cũng là chìa khóa để hiểu Bài ca ngất ngưởng.
6/ Vịnh cây thông
Bài lục bát ngắn này cho thấy một mặt khác: nỗi cô đơn, ngạo nghễ của người từng trải.
Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo,
Ai mà chịu rét thời trèo với thông.
Lời bình:
Lời “trách ông xanh” và câu “Kiếp sau xin chớ làm người” mang giọng chua chát hiếm thấy ở một người luôn hăm hở. Nhưng cây thông “đứng giữa trời mà reo”, “vách đá cheo leo” vẫn là biểu tượng của khí phách: chỉ ai “chịu rét” mới trèo tới được. Nỗi buồn ở đây không làm mất đi tư thế ngẩng cao.
Tác phẩm của Nguyễn Công Trứ trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Tác phẩm | Lớp | Bộ sách | Vị trí |
|---|---|---|---|
| Vịnh cây vông | 8 (tập 1) | Kết nối tri thức | Bài 4 – Tiếng cười trào phúng trong thơ, thực hành đọc |
| Bài ca ngất ngưởng | 11 (tập 2) | Kết nối tri thức | Bài 9 – Lựa chọn và hành động, văn bản đọc |
| Chí khí anh hùng | 11 (tập 1) | Chân trời sáng tạo | Bài 5 – Băn khoăn tìm lẽ sống, đọc kết nối chủ điểm |
Lưu ý: sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức cũng có văn bản Chí khí anh hùng nhưng đó là đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, không phải bài của Nguyễn Công Trứ.
Phong cách thơ Nguyễn Công Trứ
- Chí làm trai và “nợ tang bồng”: lý tưởng lập công danh, trả nợ với đời là cảm hứng xuyên suốt, từ Đi thi tự vịnh đến Chí khí anh hùng, Kẻ sĩ.
- Cái tôi ngông, tự do: ông dám tự xưng “ông Hy Văn”, dám “ngất ngưởng” giữa triều, đặt cá nhân lên trên khen chê của thiên hạ.
- Bậc thầy hát nói: ông góp phần định hình thể hát nói với câu dài ngắn linh hoạt, xen câu chữ Hán, giọng điệu phóng khoáng hợp với tiếng đàn phách ca trù.
- Tiếng cười trào phúng và triết lý nhân sinh: bên cạnh giọng hào hùng là những bài châm biếm thói đời, than nghèo, cảm thán nhân tình thế thái.
Lời kết
Thơ Nguyễn Công Trứ là chân dung trọn vẹn của một nhà nho tài tử: hăm hở “trả nợ tang bồng”, ngang tàng “ngất ngưởng” và luôn sống thật với mình. Đọc lại Bài ca ngất ngưởng, Chí khí anh hùng, Vịnh cây vông, người đọc hôm nay vẫn thấy một bản lĩnh sống đáng học hỏi.
Xem thêm: Tuyển tập thơ Cao Bá Quát · Tuyển tập thơ Nguyễn Khuyến · Tuyển tập thơ Tú Xương
Xem thêm: Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, thơ Lý Bạch, tác phẩm Shakespeare.

