Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là tập truyện chữ Hán được xếp vào hàng kinh điển của văn học trung đại Việt Nam. Hai mươi câu chuyện kỳ ảo, từ số phận oan khuất của Vũ Nương đến cuộc đối đầu giữa kẻ sĩ Ngô Tử Văn và hồn ma tướng giặc, vừa hấp dẫn người đọc bằng yếu tố hoang đường vừa chứa đựng cái nhìn sâu sắc về xã hội thế kỷ XVI. Hãy cùng Văn VN tìm hiểu tác giả và những truyện tiêu biểu trong tập sách.
Đôi nét về tác giả Nguyễn Dữ
Nguyễn Dữ (chữ Hán: 阮嶼) là một nho sĩ sống vào thế kỷ XVI, thời Lê sơ – Mạc. Cần phân biệt ông với đại thi hào Nguyễn Du (1765–1820), tác giả Truyện Kiều: hai tên gọi chỉ khác nhau một dấu thanh nhưng là hai tác giả thuộc hai thời đại khác nhau.

- Tên: Nguyễn Dữ (阮嶼).
- Năm sinh – mất: không rõ; sống vào khoảng thế kỷ XVI.
- Quê quán: xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, xứ Hải Dương (nay thuộc thành phố Hải Phòng).
- Học vấn, quan chức: đỗ Hương tiến, từng làm quan, giữ chức tri huyện Thanh Tuyền một năm rồi xin về nuôi mẹ.
- Tác phẩm: Truyền kỳ mạn lục (SGK hiện hành viết là Truyền kì mạn lục) – tác phẩm duy nhất còn biết đến của ông.
Tư liệu về cuộc đời Nguyễn Dữ rất ít. Tương truyền ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và là bạn học của Phùng Khắc Khoan. Sau khi đỗ Hương tiến, ông ra làm quan nhưng chỉ được một năm thì lấy cớ về phụng dưỡng mẹ già, rồi lui về ở ẩn nơi núi rừng Thanh Hóa. Chính trong những năm tháng “sống ẩn” ấy, ông viết nên Truyền kỳ mạn lục.
Có thể thấy, sự lựa chọn rời bỏ quan trường thể hiện thái độ của một nhà nho bất mãn trước thời cuộc rối ren. Thái độ ấy thấm vào nhiều truyện trong tập sách, nơi tác giả phê phán thói tham lam, bạo ngược của kẻ cầm quyền và bênh vực những con người lương thiện, đặc biệt là người phụ nữ.
Xem tiểu sử tác giả Nguyễn Dữ – cuộc đời, sự nghiệp, phong cách và nhận định.
Truyền kỳ mạn lục gồm những truyện nào?
Truyền kỳ mạn lục (nghĩa là “ghi chép tản mạn những chuyện kỳ lạ được lưu truyền”) gồm 20 truyện viết bằng chữ Hán, có xen văn biền ngẫu và thơ ca; cuối nhiều truyện có lời bình của tác giả hoặc người đương thời. Phần lớn truyện lấy bối cảnh thời Lý, Trần, Hồ và đầu thời Lê ở miền Bắc nước ta. Năm 1547, Hà Thiện Hán viết lời tựa cho tập sách; tương truyền Nguyễn Bỉnh Khiêm từng phê chữa, và Nguyễn Thế Nghi đã dịch tác phẩm ra chữ Nôm.
Danh sách 20 truyện theo bản dịch quen thuộc của Trúc Khê Ngô Văn Triện (1943):
- Câu chuyện ở đền Hạng Vương (Hạng Vương từ ký)
- Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu (Khoái Châu nghĩa phụ truyện)
- Chuyện cây gạo (Mộc miên thụ truyện)
- Chuyện gã Trà đồng giáng sinh (Trà đồng giáng đản lục)
- Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây (Tây viên kỳ ngộ ký)
- Chuyện đối tụng ở Long cung (Long đình đối tụng lục)
- Chuyện nghiệp oan của Đào thị (Đào thị nghiệp oan ký)
- Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Tản Viên từ phán sự lục)
- Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức tiên hôn lục)
- Chuyện Phạm Tử Hư lên chơi thiên tào (Phạm Tử Hư du thiên tào lục)
- Chuyện yêu quái ở Xương Giang (Xương Giang yêu quái lục)
- Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na (Na sơn tiều đối lục)
- Chuyện cái chùa hoang ở huyện Đông Triều (Đông Triều phế tự lục)
- Chuyện nàng Thúy Tiêu (Thúy Tiêu truyện)
- Chuyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang (Đà Giang dạ ẩm ký)
- Chuyện người con gái Nam Xương (Nam Xương nữ tử truyện)
- Chuyện Lý tướng quân (Lý tướng quân truyện)
- Chuyện Lệ Nương (Lệ Nương truyện)
- Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (Kim Hoa thi thoại ký)
- Chuyện tướng Dạ Xoa (Dạ Xoa bộ soái lục)

Học giả Vũ Khâm Lân thế kỷ XVIII từng khen tập sách là “thiên cổ kỳ bút” (áng văn hay hiếm có từ xưa đến nay). Theo nhà nghiên cứu Bùi Duy Tân, đây là một sáng tác văn chương thực thụ chứ không đơn thuần là việc chép lại truyện cũ.
Những truyện tiêu biểu trong Truyền kỳ mạn lục
Dưới đây là những truyện được đọc và nghiên cứu nhiều nhất của Nguyễn Dữ, trong đó hai truyện đầu hiện có mặt trong sách giáo khoa Ngữ văn.
1/ Chuyện người con gái Nam Xương
Truyện kể về Vũ Thị Thiết (Vũ Nương), người con gái quê Nam Xương. Bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện (dẫn theo Wikisource, bỏ dấu gạch nối theo chính tả hiện nay) giới thiệu nàng ngay từ câu mở đầu:
“Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương. Người đã thùy mỵ nết na, lại thêm có tư dung tốt đẹp.”
Nàng lấy Trương Sinh, một người có tính đa nghi. Chồng phải đi lính, Vũ Nương ở nhà nuôi con nhỏ, chăm sóc mẹ chồng lúc ốm đau và lo ma chay chu đáo khi bà mất. Thương con thơ, đêm đêm nàng chỉ bóng mình trên vách mà bảo đó là cha bé Đản. Trương Sinh trở về, nghe lời con trẻ ngây thơ, sinh nghi và mắng nhiếc, đuổi đánh vợ. Không thể minh oan, Vũ Nương gieo mình xuống sông Hoàng Giang với lời nguyện:
“Kẻ bạc mệnh nầy duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, đều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.”

Được các nàng tiên dưới thủy cung của Linh Phi cứu, Vũ Nương gặp lại Phan Lang – người cùng làng. Nhờ Phan Lang, Trương Sinh biết vợ bị oan và lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện lên giữa dòng, nói lời tạ từ rồi biến mất, không thể trở lại nhân gian.
Truyện được phát triển từ truyện cổ tích Thiếu phụ Nam Xương, nhưng Nguyễn Dữ đã thêm những chi tiết kỳ ảo và kết thúc giàu ý nghĩa: vừa thể hiện ước mơ công lý của nhân dân, vừa cho thấy bi kịch không thể hàn gắn của người phụ nữ dưới chế độ nam quyền. Chi tiết “cái bóng” trở thành một trong những chi tiết nghệ thuật đắt giá nhất của văn học trung đại.
Đọc thêm:
- Chuyện người con gái Nam Xương: tóm tắt, tác giả – tác phẩm
- Soạn văn 9 Chuyện người con gái Nam Xương (Chân trời sáng tạo và Kết nối tri thức)
- Phân tích Chuyện người con gái Nam Xương và giá trị nhân đạo
- Phân tích nhân vật Vũ Nương
- Ý nghĩa chi tiết cái bóng
- Các yếu tố kì ảo trong Chuyện người con gái Nam Xương
- Hóa thân Vũ Nương kể lại câu chuyện
- Giáo án Chuyện người con gái Nam Xương
2/ Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
Nhân vật chính là Ngô Tử Văn, tên là Soạn, người huyện Yên Dũng đất Lạng Giang. Bản dịch Trúc Khê tả tính cách chàng:
“Chàng tính vốn khẳng khái nóng nảy, thấy sự tà gian thì không thể chịu được.”
Trong làng có ngôi đền bị hồn viên bách hộ họ Thôi – bộ tướng của Mộc Thạnh, tử trận gần đó – chiếm giữ, tác yêu tác quái khiến dân tình khốn đốn vì cúng bái. Tử Văn tắm gội chay sạch, khấn trời rồi châm lửa đốt đền.

Sau đó chàng lâm bệnh, bị hồn ma tướng giặc kiện xuống cõi âm. Trước Diêm Vương, Tử Văn kiên quyết đối chất, vạch trần sự dối trá của kẻ thù. Sự thật được phơi bày: tên tướng giặc bị trị tội, thổ thần bị chiếm đền được trả lại chỗ, còn Tử Văn được giữ chức phán sự ở đền Tản Viên. Lời bình cuối truyện nhắc câu “cứng quá thì gãy” để rồi khẳng định: “Kẻ sĩ chỉ lo không cứng cỏi được, còn gãy hay không là việc trời.”
Truyện đề cao tinh thần dũng cảm, dám đấu tranh chống cái ác của người trí thức, đồng thời thể hiện niềm tin vào công lý và tinh thần dân tộc. Tác phẩm được học trong Ngữ văn 10 (Kết nối tri thức, với nhan đề Tản Viên từ phán sự lục) và Ngữ văn 12 (Chân trời sáng tạo, Cánh diều).
Đọc thêm: Soạn văn 10 Tản Viên từ phán sự lục – Kết nối tri thức, Tản Viên từ phán sự lục: bố cục, thể loại, tóm tắt và Phân tích Tản Viên từ phán sự lục
3/ Chuyện Từ Thức lấy vợ tiên
Từ Thức người Hóa Châu, đời Trần niên hiệu Quang Thái làm tri huyện Tiên Du, vốn tính “hay rượu, thích đàn, ham thơ, mến cảnh”. Trong hội xem hoa mẫu đơn ở ngôi chùa gần huyện, một thiếu nữ lỡ làm gãy cành hoa bị giữ lại; Từ Thức cởi tấm áo cừu gấm trắng để chuộc lỗi cho nàng.
Về sau, chán cảnh quan trường, Từ Thức bỏ quan đi ngao du, lạc vào động tiên núi Phù Lai và kết duyên với Giáng Hương – chính thiếu nữ năm xưa, con gái bà tiên Ngụy phu nhân. Nhớ quê, chàng xin trở về thì trần gian đã trôi qua hơn sáu mươi năm, cảnh cũ người xưa không còn. Truyện kết thúc khi Từ Thức vào núi Hoành Sơn, rồi không biết đi đâu mất.
Truyện thể hiện khát vọng thoát khỏi vòng danh lợi và nỗi cô đơn của con người trước dòng thời gian. Câu chuyện này cũng được kể lại dưới dạng truyện dân gian, bạn có thể đọc tại Từ Thức gặp tiên.
4/ Câu chuyện ở đền Hạng Vương
Đây là truyện mở đầu tập sách. Nhân vật là Hồ Tông Thốc, một văn thần cuối đời Trần nổi tiếng giỏi văn thơ. Trên đường đi sứ phương Bắc, ông ghé đền thờ Hạng Vương (Hạng Vũ) và đề một bài thơ chê trách nhân vật lịch sử này.
Đêm ấy, trong giấc mộng, Hồ Tông Thốc được mời đến gặp Hạng Vương và hai bên tranh luận về thành bại của người anh hùng. Qua cuộc đối đáp, Nguyễn Dữ thể hiện quan niệm của nhà nho về đạo trị nước: sức mạnh không thể thay thế cho nhân nghĩa.
5/ Câu chuyện đối đáp của người tiều phu núi Na
Truyện lấy bối cảnh thời nhà Hồ. Hồ Hán Thương đi săn, nghe tiếng một ông tiều phu ẩn cư ở núi Na liền sai người đến mời ra giúp nước. Người tiều phu khước từ và thẳng thắn chỉ ra những điều sai trái của triều đình: xây dựng tốn kém, quan lại nhũng nhiễu, lòng dân oán thán.
Cuối truyện, người tiều phu biến mất, trên vách động chỉ còn lại mấy câu thơ khó hiểu; khi nhà vua giận dữ sai đốt núi thì chỉ thấy một con hạc bay lên trời. Có thể thấy, đây là truyện bộc lộ rõ nhất thái độ phê phán chính sự của Nguyễn Dữ và lý tưởng “ở ẩn giữ mình” của nhà nho thời loạn.
Truyền kỳ mạn lục trong sách giáo khoa Ngữ văn
Tác phẩm của Nguyễn Dữ có mặt ở cả ba bộ sách theo chương trình 2018:
| Văn bản | Lớp | Bộ sách | Bài học |
|---|---|---|---|
| Chuyện người con gái Nam Xương | 9 (tập 1) | Kết nối tri thức | Bài 1 – Thế giới kì ảo |
| Chuyện người con gái Nam Xương | 9 (tập 1) | Chân trời sáng tạo | Bài 4 – Con người trong thế giới kì ảo |
| Chuyện người con gái Nam Xương | 9 (tập 2) | Cánh diều | Bài 6 – Truyện truyền kì và truyện trinh thám |
| Tản Viên từ phán sự lục | 10 (tập 1) | Kết nối tri thức | Bài 1 – Sức hấp dẫn của truyện kể |
| Chuyện chức phán sự đền Tản Viên | 12 (tập 1) | Chân trời sáng tạo | Bài 3 – Sông núi linh thiêng |
| Chuyện chức phán sự đền Tản Viên | 12 (tập 1) | Cánh diều | Bài 1 – Truyện truyền kì và truyện ngắn hiện đại |
Ngoài ra, sách còn có các văn bản nghị luận bàn về truyện của Nguyễn Dữ: “Người con gái Nam Xương” – một bi kịch của con người (Nguyễn Đăng Na, Ngữ văn 9 Kết nối tri thức) và Nghĩ thêm về “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Đình Chú, Ngữ văn 9 Cánh diều).
Giá trị và đặc sắc nghệ thuật của Truyền kỳ mạn lục
- Thể loại truyền kỳ: đan xen thế giới thực và thế giới kỳ ảo (thủy cung, cõi âm, động tiên, hồn ma, thần linh) để nói chuyện nhân gian.
- Giá trị hiện thực: phản ánh xã hội phong kiến loạn lạc, phê phán vua quan tham bạo và những thói xấu của con người.
- Giá trị nhân đạo: cảm thông với số phận người phụ nữ, đề cao người trí thức cương trực, trân trọng khát vọng hạnh phúc.
- Nghệ thuật: cốt truyện hấp dẫn, nhân vật có cá tính, văn xuôi chữ Hán xen biền văn và thơ, nhiều truyện có lời bình cuối.
Tập sách đã ảnh hưởng tới nhiều tác giả đời sau; dòng truyện truyền kỳ tiếp tục phát triển với những tác phẩm như Truyền kì tân phả của Đoàn Thị Điểm, trong đó truyện Hải khẩu linh từ được học ở Ngữ văn 12 bộ Kết nối tri thức.
Lời kết
Trải qua gần năm thế kỷ, Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ vẫn giữ nguyên sức hấp dẫn nhờ những câu chuyện kỳ ảo mà thấm đẫm tình người. Đọc lại Vũ Nương, Ngô Tử Văn hay Từ Thức, người đọc hôm nay vẫn nhận ra khát vọng công lý, lẽ phải và hạnh phúc mà ông cha ta gửi gắm.
Xem thêm: Tổng hợp các tác phẩm Nguyễn Trãi · Trọn bộ thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm · Những bài thơ Nguyễn Du nổi tiếng
Xem thêm: thơ Lý Bạch, tác phẩm Shakespeare, thơ Nguyễn Công Trứ.