Thị Mầu lên chùa là lớp trò nổi tiếng nhất của vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính, được học ở Bài 5 “Nghệ thuật truyền thống” sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo và Bài 3 “Kịch bản chèo và tuồng” sách Ngữ văn 10 Cánh diều (đều ở tập một). Bài viết tổng hợp những kiến thức cần nắm: tác giả dân gian và đặc trưng chèo cổ, vị trí đoạn trích trong vở Quan Âm Thị Kính, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy và tóm tắt vở chèo.
Nội dung văn bản Thị Mầu lên chùa
Đoạn trích là cảnh Thị Mầu – con gái phú ông – lên chùa lễ Phật nhưng thực chất để ngắm và ghẹo chú tiểu Kính Tâm (Thị Kính giả trai đi tu). Văn bản trong SGK dựa theo bản chỉnh lí của các nhà nghiên cứu chèo, nên dưới đây chỉ tóm lược diễn biến và trích những lời tiêu biểu; toàn văn em đọc trong sách hoặc bài soạn bài Thị Mầu lên chùa.

Mở đầu, Thị Mầu ra sân khấu, nói với “chị em” rằng mai đã là rằm, ai muốn ăn oản thì năng lên chùa. Tiếng đế đáp người ta lên chùa vào “mười tư, rằm”, còn Mầu khoe mình lên từ mười ba, rồi hát:
Tôi lên chùa thấy tiểu mười ba
Thấy sư mười bốn, vãi già mười lăm
Mầu xưng danh là con gái phú ông, mang tiền gạo của cha mẹ lên chùa tiến cúng, gọi chú tiểu ra nhận lễ. Kính Tâm hỏi tên để ghi vào lòng sớ, Mầu liền nhấn mạnh: “Tuổi vừa đôi tám, chưa chồng đấy thầy tiểu ơi!”.
Phần giữa là màn Mầu khen và ghẹo tiểu. Thấy Kính Tâm “đẹp như sao băng”, “cổ cao ba ngấn, lông mày nét ngang”, Mầu mặc kệ tiếng đế chê trách, tự ví mình với chú tiểu:
Thầy như táo rụng sân đình
Em như gái rở, đi rình của chua.
Tiếng đế hỏi nhà Mầu có ai như Mầu không, chê “Dơ lắm! Mầu ơi!”, Mầu vẫn đáp “Kệ tao!”, mời tiểu ăn trầu, đòi đánh mõ hộ. Kính Tâm chỉ niệm “Nam mô A di đà Phật”.
Cuối đoạn, Mầu hát ghẹo tiểu bằng một chuỗi câu ví von (“Phải duyên thời lấy, chớ nghe họ hàng”, “Trúc xinh trúc mọc sân đình / Em xinh em đứng một mình chẳng xinh!”). Kính Tâm bỏ chạy, Mầu nấp chờ. Khi Kính Tâm quay ra, độc thoại về nỗi oan trái, Mầu xông ra nắm tay, giành chổi quét chùa, lại bị bỏ chạy lần nữa. Mầu than “Tri âm chẳng tỏ tri âm / Để tôi thương vụng nhớ thầm sầu riêng!” và đáp lại lời chê của tiếng đế bằng câu nổi tiếng: “Lẳng lơ đây cũng chẳng mòn / Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ”.
Tác giả dân gian và nghệ thuật chèo cổ
Thị Mầu lên chùa không có tác giả cụ thể. Quan Âm Thị Kính là vở chèo cổ khuyết danh, do nhiều thế hệ nghệ nhân dân gian sáng tạo và trau chuốt qua biểu diễn, truyền miệng; về sau mới được ghi chép, chỉnh lí thành kịch bản. Khi làm bài, em ghi tác giả là “tác giả dân gian” hoặc “chèo cổ”.
Chèo là loại hình sân khấu kịch hát truyền thống của người Việt, phát triển mạnh ở đồng bằng Bắc Bộ, gắn với sân đình và hội làng. Một vở chèo gồm tích (câu chuyện) và trò (cách diễn); lời thoại là thơ, ca dao, dân ca được nói hoặc hát theo các làn điệu, kết hợp múa và nhạc cụ dân tộc. Nhân vật chèo mang tính ước lệ, chia thành các vai quen thuộc: kép, đào thương (người phụ nữ hiền thục, chịu nhiều oan khổ), đào lệch hay đào lẳng (cô gái sôi nổi, tinh nghịch, dám vượt khuôn phép), hề, mụ ác, lão.
Đặc biệt, chèo có tiếng đế – lời của người ngoài sân khấu (nhạc công, người xem) chen vào để hỏi, trêu, bình phẩm nhân vật. Nhân vật cũng thường xưng danh và nói thẳng với khán giả (bàng thoại). Nhờ vậy, buổi diễn chèo luôn có sự giao lưu gần gũi giữa sân khấu và người xem.
Trong kho chèo cổ, Quan Âm Thị Kính được xem là một trong những vở tiêu biểu nhất, bên cạnh Kim Nham, Lưu Bình – Dương Lễ, Trương Viên, Chu Mãi Thần… Riêng lớp Thị Mầu lên chùa đã trở thành tiết mục độc lập, thường được biểu diễn trong các chương trình chèo và là thử thách quen thuộc của những diễn viên đóng vai đào lệch.
Thông tin tác phẩm Thị Mầu lên chùa
Thị Mầu lên chùa được trích từ đâu?
Đoạn trích thuộc vở chèo cổ Quan Âm Thị Kính. Văn bản trong SGK Chân trời sáng tạo ghi nguồn: Hà Văn Cầu (chủ biên), Hà Văn Cầu – Hà Văn Trụ (biên soạn), Kịch bản chèo, quyển 1, NXB Khoa học xã hội, 2014. Vở chèo có cùng cốt truyện với truyện thơ Nôm Quan Âm Thị Kính (khuyết danh), tác phẩm có đoạn Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu quen thuộc với học sinh.
Vị trí đoạn trích trong vở chèo
Sau khi bị nhà chồng vu oan “giết chồng” và đuổi về, Thị Kính cải trang thành nam, xin vào tu ở chùa với pháp danh Kính Tâm. Lớp Thị Mầu lên chùa nằm ở phần giữa vở chèo: lần đầu Thị Mầu gặp Kính Tâm, đem lòng say mê và ra sức ghẹo, nhưng bị cự tuyệt. Chính mối “tình một phía” này là mầm mống của nỗi oan thứ hai: về sau Thị Mầu có mang với người khác rồi khai là con của Kính Tâm.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: chèo (chèo cổ, kịch bản sân khấu dân gian).
- Phương thức biểu đạt: tự sự kết hợp biểu cảm, thể hiện qua lời thoại (nói và hát) của nhân vật và tiếng đế.
- Nhân vật: Thị Mầu (đào lệch), Thị Kính – Kính Tâm (đào thương), tiếng đế.
Bố cục Thị Mầu lên chùa có mấy phần?
Các tài liệu phổ biến chia đoạn trích thành 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Có ai như mày không?”): Thị Mầu lên chùa, xưng danh, khen và ghẹo Kính Tâm trước lời bình phẩm của tiếng đế.
- Phần 2 (còn lại): Thị Mầu hát ghẹo, đuổi theo, nắm tay Kính Tâm; Kính Tâm lẩn tránh, ngậm ngùi về thân phận; Mầu thách thức lời chê “lẳng lơ”.
Nếu bám theo hành động sân khấu, em cũng có thể chia 3 phần: Thị Mầu lên chùa và xưng danh – Thị Mầu khen, ghẹo tiểu trước tiếng đế – Thị Mầu hát ghẹo, nắm tay và bị cự tuyệt.
Tóm tắt văn bản Thị Mầu lên chùa
Thị Mầu, con gái phú ông, lên chùa từ ngày mười ba, mang tiền gạo cúng Phật nhưng chỉ chăm chăm ngắm chú tiểu Kính Tâm. Mầu xưng danh, nhấn mạnh mình “chưa chồng”, khen tiểu đẹp, ví mình như gái rở thèm của chua, mặc tiếng đế chê bai. Kính Tâm chỉ niệm Phật và lảng tránh. Mầu hát ghẹo, nấp chờ, nắm tay, giành chổi, nhưng Kính Tâm vẫn bỏ chạy. Cuối cùng Mầu buồn bã than “tri âm chẳng tỏ” mà vẫn thách thức lời chê “lẳng lơ” của thiên hạ.
Giá trị nội dung
- Khắc họa sinh động nhân vật Thị Mầu – cô gái lẳng lơ, táo bạo, dám chủ động bày tỏ tình yêu, bất chấp lễ giáo phong kiến và sự tôn nghiêm của chốn thiền môn.
- Thể hiện khát vọng sống, khát vọng tình yêu tự do của người phụ nữ bị kìm nén trong xã hội cũ; quan niệm “phải duyên thời lấy, chớ nghe họ hàng” vượt ra khỏi khuôn khổ “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”.
- Qua tiếng đế, tác giả dân gian vừa chê trách sự lả lơi, vừa ngầm thích thú, cảm thông với sức sống mãnh liệt của nhân vật.
- Làm nổi bật phẩm chất của Thị Kính: đoan chính, nhẫn nhịn, giữ đạo; đồng thời hé lộ bi kịch oan trái của nàng.
Giá trị nghệ thuật
- Xây dựng hai nhân vật đối lập theo lối vai của chèo: đào lệch Thị Mầu sôi nổi – đào thương Thị Kính trầm lặng.
- Lời thoại đa dạng: đối thoại, độc thoại, bàng thoại; lời nói xen lời hát; tiếng đế tạo không khí giao lưu với khán giả.
- Ngôn ngữ đậm chất dân gian: vận dụng và biến tấu ca dao (“Trúc xinh…”), so sánh táo bạo (“táo rụng sân đình” – “gái rở”), điệp tiếng gọi “thầy tiểu ơi”.
- Tiếng cười chèo nhẹ nhàng, hóm hỉnh; chỉ dẫn sân khấu gợi rõ hành động, điệu bộ của nhân vật.
Ý nghĩa nhan đề Thị Mầu lên chùa
Nhan đề nêu sự việc chính và gợi ngay nghịch lí của cảnh trò: chùa là chốn thanh tịnh để lễ Phật, cầu phúc, nhưng Thị Mầu lên chùa lại để tìm người thương. Chính sự “lệch chỗ” ấy làm bật lên tính cách phá cách của nhân vật và tạo nên tiếng cười đặc trưng của chèo.
Sơ đồ tư duy Thị Mầu lên chùa

Tóm tắt vở chèo Quan Âm Thị Kính
Nắm được toàn bộ tích truyện giúp em hiểu vì sao cảnh ghẹo tiểu vừa buồn cười vừa đáng thương. Dưới đây là hai bản tóm tắt vở chèo; các mẫu tóm tắt riêng đoạn trích có trong bài tóm tắt cùng tác phẩm.
Mẫu 1 – Tóm tắt Quan Âm Thị Kính ngắn gọn
Thị Kính, con gái Mãng ông, lấy Thiện Sĩ nhà họ Sùng. Một đêm, thấy chồng có sợi râu mọc ngược, nàng cầm dao định xén thì chồng giật mình, tưởng vợ định giết mình. Bị nhà chồng đuổi về, Thị Kính giả trai đi tu, lấy tên Kính Tâm. Thị Mầu lên chùa say mê Kính Tâm không được, về sau có mang với người ở rồi đổ cho Kính Tâm. Kính Tâm chịu oan, nuôi đứa trẻ Mầu bỏ ở cổng chùa đến khi kiệt sức qua đời; lúc ấy mọi người mới biết nàng là nữ, nỗi oan được giải và Thị Kính thành Phật Quan Âm.
Mẫu 2 – Tóm tắt Quan Âm Thị Kính đầy đủ
Mãng ông gả con gái là Thị Kính cho Thiện Sĩ, một học trò nhà họ Sùng. Vợ chồng đang êm ấm thì một đêm Thiện Sĩ ngủ quên bên án sách, Thị Kính thấy trên cằm chồng có sợi râu mọc ngược, sợ là điềm gở nên cầm dao định xén đi. Thiện Sĩ giật mình tỉnh dậy, kêu lên rằng vợ có ý giết mình. Cha mẹ chồng không nghe nàng thanh minh, gọi Mãng ông đến trả con về.
Không chịu nổi tiếng oan, Thị Kính cắt tóc, mặc áo nam, xin vào tu ở một ngôi chùa, được sư cụ đặt pháp danh Kính Tâm. Thị Mầu, con gái phú ông trong làng, lên chùa thấy tiểu đẹp thì mê, ra sức ghẹo nhưng bị cự tuyệt. Về nhà, Mầu tư tình với người đầy tớ rồi có mang. Làng bắt vạ, Mầu khai cha đứa bé là Kính Tâm. Kính Tâm bị đưa ra đình tra hỏi, không thể nói mình là gái nên đành nhận oan; sư cụ cho ra ở ngoài tam quan.
Thị Mầu sinh con, đem bỏ ở cổng chùa. Thương đứa trẻ vô tội, Kính Tâm nhận về, đi xin sữa khắp nơi để nuôi. Vài năm sau, kiệt sức, nàng viết thư để lại rồi qua đời. Khi khâm liệm, mọi người mới biết Kính Tâm là phụ nữ; nỗi oan tày trời được giải. Thị Kính được lên tòa sen, trở thành Phật Bà Quan Âm – từ đó dân gian có thành ngữ “oan Thị Kính” để chỉ nỗi oan không thể giãi bày.
Lời kết
Thị Mầu lên chùa là minh chứng rõ nhất cho sức hấp dẫn của chèo cổ: chỉ một cảnh trò ngắn mà dựng được một nhân vật sống động, táo bạo hiếm thấy trong văn học dân gian. Khi ôn tập, em cần nhớ vị trí đoạn trích trong vở Quan Âm Thị Kính, sự đối lập giữa đào lệch Thị Mầu và đào thương Thị Kính, vai trò của tiếng đế và thái độ vừa chê trách vừa cảm thông của tác giả dân gian.
Xem thêm: