Soạn bài Mắc mưu Thị Hến dưới đây giúp em chuẩn bị bài và trả lời đủ các câu hỏi ở trang 68 – 74, Bài 3 Kịch bản chèo và tuồng, sách Ngữ văn 10 Cánh diều tập một. Đoạn trích thuộc lớp cuối của vở tuồng đồ Nghêu, Sò, Ốc, Hến: một người đàn bà góa dùng mẹo nhỏ khiến ba kẻ có chức, có danh trong vùng cùng lúc lộ mặt ngay trong nhà mình.
Tìm hiểu chung về đoạn trích Mắc mưu Thị Hến
Trước khi vào câu hỏi, em nên nắm nguồn gốc văn bản, thể loại, nhân vật và cách chia đoạn để trả lời cho chắc.

Xuất xứ và vị trí đoạn trích
- Tác giả: khuyết danh (tác giả dân gian). Vở tuồng được các gánh hát lưu truyền, có nhiều dị bản.
- Nguồn in trong SGK: lấy từ vở Nghêu, Sò, Ốc, Hến. Bản in trong sách dựa theo Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 12, NXB Khoa học Xã hội, 2000, trang 544 – 548. Nhan đề “Mắc mưu Thị Hến” do người biên soạn đặt.
- Vị trí: đoạn này thuộc lớp XIX – lớp khép lại toàn bộ vở tuồng. Sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo in cùng lớp tuồng này dưới nhan đề Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu mắc lỡm Thị Hến.
- Thể loại: tuồng đồ (tuồng hài) – loại tuồng lấy chuyện đời thường làm đề tài và dùng tiếng cười để châm biếm.
Nhân vật và bố cục
- Thị Hến: người đàn bà góa trẻ, vừa được tha bổng trong vụ kiện ở huyện đường.
- Thầy Nghêu: gã thầy tu phá giới, mon men đến ve vãn Thị Hến.
- Đề Hầu (thầy Đề, thầy Lại): viên đề lại giúp việc quan huyện.
- Huyện Trìa: quan huyện, người từng xử vụ kiện của Thị Hến.
Văn bản có thể chia 4 phần theo lượt người đến nhà Thị Hến: (1) từ đầu đến “Sẽ bày tình tự”: Thầy Nghêu đến rồi phải trốn; (2) tiếp đến “Hễ phá giới tức hành trảm quyết!”: Đề Hầu được tiếp và bị gài lời; (3) tiếp đến lời quan răn đừng ham “của lạ”: Huyện Trìa đến, cả ba lần lượt lộ diện; (4) phần còn lại: Thị Hến hả hê vì kế đã thành.
Soạn bài Mắc mưu Thị Hến – Chuẩn bị (trang 68 – 69)
Phần chuẩn bị yêu cầu em đọc trước văn bản, đọc phần tóm tắt vở tuồng và quan sát ảnh minh họa trong sách.
Câu 1: Đoán mưu kế của Thị Hến (trang 69)
Dựa vào tóm tắt vở tuồng và bức ảnh minh họa, em đoán xem mưu kế của Thị Hến là gì?
Trả lời:
Em đoán Thị Hến mời cả ba kẻ đang theo đuổi mình – Huyện Trìa, Đề Hầu, Thầy Nghêu – sang nhà vào cùng một tối, mỗi người tưởng chỉ có riêng mình được mời. Khi người sau tới, người trước phải tìm chỗ nấp. Nhân lúc cả ba cùng có mặt, Hến khéo léo gợi chuyện để họ tự nói xấu, tố tội lẫn nhau, rồi buộc phải chui ra đối mặt trong cảnh bẽ bàng. Như thế, nàng vừa trừng trị vừa chặn được việc họ còn đến quấy rầy về sau.
Soạn bài Mắc mưu Thị Hến – Đọc hiểu: câu hỏi trong khi đọc
Các câu hỏi in ở lề sách giúp em theo dõi diễn biến từng lượt nhân vật xuất hiện.
Câu 1: Chỉ dẫn sân khấu, ngôn ngữ và hành động nhân vật (trang 69 – 70)
Chú ý các chỉ dẫn sân khấu để xác định ngôn ngữ và hành động của mỗi nhân vật.
Trả lời:
Chỉ dẫn sân khấu được đặt trong ngoặc đơn, cho biết ai làm gì, ở đâu, lúc nào:
- Thầy Nghêu: gọi cửa trong đêm; nghe tiếng Đề Hầu thì chui xuống gầm phản; cuối cảnh lại từ gầm giường bò ra.
- Đề Hầu: kêu cửa rồi được mời vào; nghe tiếng quan thì tìm chỗ trốn (sau này mới biết là ngồi trong thúng); cuối cùng lồm cồm bò ra.
- Huyện Trìa: tới nơi, đứng nói ngoài cửa, được mời vào; sau khi mắng mỏ hai kẻ kia thì rút lui (Hạ).
- Thị Hến: luôn là người mở cửa, mời trà rượu, chỉ chỗ nấp, đặt câu hỏi; khép lại cảnh bằng lời nói một mình rồi lui vào (Hạ).
Ngoài ra còn những tiếng đệm như “(Ủa!)”, “(Uẩy!)”, “(Chui chao!)” chỉ cách nói, sắc thái cảm xúc của từng nhân vật.
Câu 2: Nghêu khi nghe Đề Hầu gõ cửa (trang 70)
Hình dung cử chỉ, điệu bộ, thái độ và hành động của Nghêu khi biết Đề Hầu đang gõ cửa nhà Thị Hến.
Trả lời:
Đang tỉ tê dỗ dành Thị Hến thì nghe tiếng gọi cửa, Nghêu giật bắn người, mặt cắt không còn hột máu. Lão cuống quýt kêu khổ vì “Lão Đề Lại làm chi quá ngặt”, chạy tới chạy lui trong nhà, lắp bắp năn nỉ Hến chỉ cho chỗ trốn vì “Ra cửa có thầy Đề đứng đó!”. Hến vừa bảo xuống dưới phản, lão vội khom lưng chui tọt vào gầm, nằm im thin thít. Bộ dạng một “ông thầy” khúm núm, sợ sệt như thế khiến người xem bật cười.
Câu 3: Thị Hến sẽ làm gì với Đề Hầu? (trang 70)
Đoán xem Thị Hến sẽ làm gì với Đề Hầu.
Trả lời:
Em đoán Thị Hến sẽ niềm nở mở cửa, nói lời ngọt ngào để Đề Hầu tưởng mình được ưu ái, rồi mời trà rượu cho hắn yên tâm ngồi lại. Sau đó nàng sẽ khéo léo lái câu chuyện sang việc thầy tu phá giới để Đề Hầu buông lời phán xét, mà Nghêu đang nằm dưới gầm phản nghe rõ từng chữ. Như vậy, Hến vừa giữ chân Đề Hầu vừa gieo mầm thù ghét giữa hai kẻ cùng đến ve vãn mình.
Câu 4: Nghêu nghe lời phán của Đề Hầu (trang 71)
Đoán xem Nghêu cảm thấy như thế nào khi nghe lời phán của Đề Hầu.
Trả lời:
Nghe Đề Hầu tuyên bố “Hễ phá giới tức hành trảm quyết!”, Nghêu dưới gầm phản hẳn sợ toát mồ hôi, run lẩy bẩy vì chính lão là thầy tu đang phá giới. Bên cạnh nỗi sợ còn là cơn tức tối: kẻ đang ngồi ve vãn Thị Hến cũng chẳng trong sạch gì mà dám phán tội người khác nặng như vậy. Nỗi hậm hực ấy sẽ bùng ra khi Nghêu có dịp trả đũa.
Câu 5: Đề Hầu khi nghe tiếng quan huyện (trang 71)
Hình dung gương mặt, cử chỉ, thái độ của Đề Hầu khi nghe tiếng quan huyện.
Trả lời:
Vừa nghe quan huyện gọi cửa, Đề Hầu tái xanh mặt, mắt láo liên, tay chân lóng ngóng. Hắn kêu lên mấy câu chữ Hán “Văn ngôn sắc biến! Sắc biến! / Thính thuyết hồn kinh! Hồn kinh!”, nghĩa là nghe tiếng mà biến sắc, nghe nói mà hồn vía kinh hãi. Hắn biết rõ nếu quan phát hiện thì “Chắc hẳn thầy Đề mang khổ”, nên hối hả tìm chỗ nấp. Kẻ vừa ra vẻ hiểu luật, phán tội người khác giờ lại co rúm như con chuột gặp mèo.
Câu 6: Hành động của Nghêu (trang 73)
Chú ý hành động của Nghêu.
Trả lời:
Nghe quan huyện nói thầy tu phá giới chỉ bị “đánh đòn phát lạc”, Nghêu mừng rỡ bò ngay từ gầm giường ra. Lão tâng bốc quan xử thật sáng suốt, xứng là bậc cha mẹ của dân, rồi lập tức quay sang tố Đề Hầu đang trốn trong thúng: hắn là kẻ “Chỉ thị dâm ô chi loại!”. Lão còn so sánh tội: “Như thầy tu phá giới, / Thời bất quá đánh đòn, / Còn thầy Lại phạm giam / Thật ắt là tội chết!”. Hành động ấy cho thấy Nghêu vừa hèn vừa xảo: hễ được an toàn là nịnh bợ người trên, đổ hết tội cho kẻ khác để trả mối hận lúc nãy.
Câu 7: Hành động của Đề Hầu (trang 73)
Chú ý hành động của Đề Hầu.
Trả lời:
Bị Nghêu khai ra, Đề Hầu không còn đường trốn, đành lồm cồm bò ra khỏi chỗ nấp. Hắn đổ lỗi cho người khác: “Đầu đuôi tại mụ Hến, / Mưu mẹo bởi lão thầy tu.”, rồi xin nhận lỗi trước quan. Nhưng trong lời chịu tội lại có ý móc máy: quan huyện cũng mắc mưu đàn bà như ai, từ huyện đến đề đều có mặt đủ cả, “Còn tạo lệ không mời luôn thể!”. Đề Hầu vừa nhục nhã vừa cay cú, kéo luôn cả quan vào chuyện xấu.
Câu 8: Tâm trạng ba nhân vật khi ra về (trang 74)
Cả ba nhân vật đã ra khỏi nhà Thị Hến trong tâm trạng như thế nào?
Trả lời:
Cả ba ra về trong ê chề, bẽ mặt. Huyện Trìa bực bội, xấu hổ nhưng vẫn cố giữ thể diện bằng cách quát nạt cấp dưới, lại bắt Đề Hầu cõng mình về và tự răn mọi người phải nén lòng, đừng ham “của lạ”. Đề Hầu vừa nhục vừa ấm ức vì bị lộ, lại phải cõng quan. Nghêu thì xấu hổ, lủi thủi về chùa. Không ai còn mặt mũi nào để quay lại nhà Thị Hến nữa – đó chính là kết quả Hến mong muốn.
Soạn bài Mắc mưu Thị Hến – Đọc hiểu: câu hỏi sau khi đọc (trang 74)
Sáu câu hỏi cuối bài yêu cầu em nắm bối cảnh, phân tích nguồn gốc tiếng cười, vai trò của chỉ dẫn sân khấu và rút ra ý nghĩa của đoạn trích.
Câu 1: Bối cảnh, nhân vật và tóm tắt đoạn trích (trang 74)
Xác định bối cảnh (không gian, thời gian) và các nhân vật tham gia câu chuyện trong đoạn trích Mắc mưu Thị Hến. Hãy tóm tắt nội dung đoạn trích.
Trả lời:
- Không gian: trong căn nhà của Thị Hến – một không gian hẹp, có cửa ra vào, có chiếc phản và cái thúng để làm chỗ nấp.
- Thời gian: một buổi tối tối trời, đường sá khó đi (lời Nghêu và Huyện Trìa đều than đêm tăm tối).
- Nhân vật: Thị Hến, Thầy Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa.
Tóm tắt: Thị Hến hẹn cả ba kẻ theo đuổi mình đến nhà trong cùng một tối. Nghêu đến trước, đang dỗ ngọt thì Đề Hầu gọi cửa, Nghêu phải chui xuống gầm phản. Hến tiếp Đề Hầu bằng lời êm ái rồi hỏi thầy tu phá giới bị tội gì, Đề Hầu phán phải chém. Đến lượt Huyện Trìa gọi cửa, Đề Hầu hoảng hốt trốn vào thúng. Hến lại hỏi quan câu ấy, quan bảo chỉ bị đánh đòn. Nghêu mừng rỡ bò ra nịnh quan và tố Đề Hầu; Đề Hầu đành bò ra nhận lỗi. Huyện Trìa mắng cả hai, bắt Đề Hầu cõng mình về. Còn lại một mình, Thị Hến hả hê vì kế đã thành, từ nay giữ được sự yên ổn và tiết hạnh.
Câu 2: Các yếu tố tạo ra tiếng cười (trang 74)
Phân tích một số yếu tố tạo ra tiếng cười trong đoạn trích: tình huống, ngôn ngữ và hành động của các nhân vật,…
Trả lời:
- Tình huống: ba kẻ cùng mê một người đàn bà, lần lượt kéo đến một nhà trong một đêm. Người trước phải trốn người sau, mà kẻ sau lại có quyền to hơn kẻ trước: thầy tu sợ thầy đề, thầy đề sợ quan huyện. Tình huống trốn rồi bị lộ lặp lại theo bậc thang quyền lực khiến tiếng cười tăng dần, rồi bùng lên khi cả ba cùng chạm mặt.
- Ngôn ngữ: lời lẽ ra vẻ đạo mạo mà bên trong là dục vọng tầm thường. Nghêu bảo “Kệ kinh chuông mõ trả cho chùa” để xin được làm chồng bà góa. Đề Hầu đọc thành ngữ “Đèn không khêu không tỏ, / Chuông không đánh không kêu.” để tỏ tình. Huyện Trìa và Đề Hầu chêm chữ Hán lúc ra oai lẫn lúc sợ hãi, nghe vừa kệch cỡm vừa nực cười. Hai lời “phán” về tội phá giới, một bảo chém, một bảo đánh đòn, đặt sát nhau càng lộ sự tùy tiện của luật lệ trong tay họ.
- Hành động: chui gầm phản, ngồi thúng, bò ra, lồm cồm, cõng quan về – những động tác thấp kém trái ngược với danh xưng “thầy”, “quan”. Ngay giữa cảnh bẽ mặt, quan vẫn bắt thuộc hạ cõng mình, chi tiết ấy khép lại màn hài kịch đầy châm biếm.
Câu 3: Tác dụng của chỉ dẫn sân khấu (trang 74)
Chỉ ra và phân tích tác dụng của một số chỉ dẫn sân khấu có trong văn bản Mắc mưu Thị Hến.
Trả lời:
Các chỉ dẫn sân khấu tiêu biểu: “Tiếng Đề Hầu kêu cửa”; “Thầy Nghêu chui xuống gầm phản, Đề Hầu vào”; “Huyện Trìa tới”; “nói ngoài cửa”; “Thầy Đề trốn, ông Huyện vào”; “Từ gầm giường bò ra”; “Lồm cồm bò ra”; “Hạ”. Bên cạnh đó là các tiếng đệm như (Ủa!), (Chui chao!), (Uẩy!), (Ui chao!).
Tác dụng:
- Cho người đọc, người diễn biết thời điểm nhân vật ra vào, chỗ đứng, cách di chuyển; nhờ vậy nhịp kịch nhanh, các lượt đến, trốn rồi lộ mặt nối nhau mạch lạc.
- Tạo tiếng cười trực tiếp qua hành động: những động tác chui, bò, lồm cồm của các “ông thầy”, “ông quan” là chi tiết gây cười đắt giá trên sân khấu.
- Bộc lộ tâm trạng, tính cách nhân vật: tiếng kêu sợ hãi, ngạc nhiên cho thấy sự hèn nhát, giả dối ẩn sau vẻ oai vệ.
- Giúp phân biệt lời nói với hành động, làm rõ đặc trưng của kịch bản tuồng như một văn bản để biểu diễn.
Câu 4: Thái độ của tác giả dân gian với các nhân vật (trang 74)
Trong văn bản, tác giả dân gian đã thể hiện thái độ như thế nào đối với các nhân vật?
Trả lời:
- Với Thầy Nghêu, Đề Hầu, Huyện Trìa: thái độ mỉa mai, châm biếm sâu cay. Một kẻ tu hành phá giới, một viên đề lại và một ông quan đầu huyện – những người lẽ ra giữ đạo đức, giữ phép nước – lại lén lút đi ve vãn bà góa, hèn nhát khi bị bắt gặp, rồi quay ra tố nhau. Tác giả dân gian để họ tự phơi bày qua lời nói, hành động của chính mình.
- Với Thị Hến: thái độ cảm thông và tán thưởng. Hến là người góa bụa, yếu thế nhưng không cam chịu bị quấy nhiễu; nàng thông minh, khéo léo, dùng chính lòng ham muốn của bọn đàn ông để trị họ. Câu kết của Hến cho thấy nàng muốn sống yên ổn, giữ tiết hạnh. Dù trong vở tuồng Hến cũng có lúc lẳng lơ, ở lớp tuồng này, tác giả dân gian đứng về phía nàng.
Câu 5: Chi tiết, hình ảnh ấn tượng nhất (trang 74)
Em ấn tượng nhất với chi tiết, hình ảnh nào trong đoạn trích? Vì sao?
Trả lời:
Chi tiết khiến em nhớ mãi là cảnh Huyện Trìa, sau khi mắng mỏ Nghêu và Đề Hầu, lại ra lệnh “Để Lại mau cõng mỗ về nhà.” Chỉ một câu mà phơi bày trọn vẹn bản chất ông quan: vừa bị bắt quả tang đến nhà bà góa lúc nửa đêm, vẫn tỏ ra mình là người đứng trên, vẫn hành hạ thuộc hạ như thường. Hình ảnh viên đề lại vừa bò ra khỏi thúng đã phải còng lưng cõng quan về là một cảnh tượng vừa buồn cười vừa chua chát. Nó cho thấy trật tự quan trường được giữ nguyên ngay cả khi cả hai cùng mất hết thể diện.
Em cũng có thể chọn lời Thị Hến ở cuối đoạn: “Tâm khoái dã! Tâm khoái dã!” – tiếng reo của người phụ nữ nhỏ bé vừa thắng ba kẻ quyền thế.
Câu 6: Ý nghĩa của tiếng cười hôm nay (trang 74)
Tiếng cười ở đoạn trích Mắc mưu Thị Hến còn có ý nghĩa với cuộc sống hôm nay hay không? Vì sao?
Trả lời:
Theo em, tiếng cười trong đoạn trích vẫn còn nguyên giá trị đối với đời sống hiện nay, vì:
- Những thói xấu bị đem ra giễu cợt – đạo đức giả, lạm dụng chức quyền, nịnh trên nạt dưới, gặp chuyện thì đổ lỗi cho nhau – vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức. Cười chúng là cách để nhận diện và phê phán.
- Tiếng cười đề cao trí khôn của người yếu thế: không cần sức mạnh hay quyền lực, chỉ bằng sự tỉnh táo và khéo léo, người ta vẫn có thể tự bảo vệ mình trước sự quấy rối.
- Tiếng cười nhắc mỗi người tự soi lại mình: khi danh nghĩa và hành động không đi đôi, con người sẽ trở thành trò cười.
- Bên cạnh đó, tiếng cười hồn nhiên, sảng khoái của tuồng đồ còn giúp người xem hôm nay hiểu và thêm yêu một môn sân khấu cổ truyền của cha ông.
Giải nghĩa một số từ ngữ trong đoạn trích
Lời thoại tuồng có nhiều từ địa phương miền Trung và từ Hán Việt. Một số từ thường gặp:
- mỗ: tiếng tự xưng (tôi, ta); min: ta, tao (phương ngữ); nường: nàng; chừ: bây giờ.
- thầy Lại, thầy Đề: cách gọi viên đề lại (Đề Hầu) – người giúp việc giấy tờ, án từ ở huyện.
- phá giới: người tu hành làm trái giới luật nhà Phật; trảm quyết: xử chém ngay; phát lạc: xử trị, định tội (đánh đòn phát lạc: đánh đòn rồi xử phạt).
- tạo lệ: lính hầu ở cửa quan.
Kết luận
Soạn bài Mắc mưu Thị Hến, em cần nắm được tình huống kịch người trước trốn người sau được đẩy dần lên đỉnh điểm, vai trò của chỉ dẫn sân khấu trong kịch bản tuồng và cách nhìn của người xưa: chế giễu kẻ có quyền mà đồi bại, tán thưởng người phụ nữ thông minh biết tự bảo vệ mình. Nếu học sách Chân trời sáng tạo, em xem thêm bài soạn cùng lớp tuồng này ở đường dẫn bên dưới.
Xem thêm: