Tết Nguyên Đán là dịp đón năm mới theo âm lịch, bắt đầu từ ngày mùng 1 tháng Giêng, ngày hội truyền thống lớn nhất của người Việt trong cả năm. Ngoài tên chính, Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, hoặc gọn một chữ: Tết. Mỗi cái tên nhấn vào một mặt của cùng một ngày hội.
| Nghĩa | Tết của buổi sáng đầu tiên trong năm âm lịch |
| Tên gọi khác | Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết |
| Thời điểm | Mùng 1 tháng Giêng âm lịch, thường rơi vào quãng cuối tháng Một, đầu tháng Hai dương lịch |
| Quãng thời gian | Thường tính từ 23 tháng Chạp đến hết mùng 7 tháng Giêng |
| Vùng miền | Cả nước; miền Bắc chuộng đào, quất, miền Nam chuộng mai vàng |

Tết Nguyên Đán nghĩa là gì?
Nguyên Đán là từ Hán Việt, viết 元旦. Nguyên là khởi đầu, cái đầu tiên; đán là buổi sáng sớm. Ghép lại thành “buổi sáng đầu tiên”, tức sáng ngày mở đầu một năm mới.
Còn chữ Tết, nhiều tài liệu giải thích là cách người Việt đọc chệch chữ tiết 節, nghĩa là đốt tre, rồi chuyển thành khoảng phân chia thời gian trong năm. Vì thế nếu đọc đúng âm Hán Việt thì phải là “Tiết Nguyên Đán”. Cũng bởi chữ tết vốn là tiết mà tiếng Việt có nhiều “tết” khác nhau: Tết Đoan ngọ, Tết Hàn thực, Tết Trung thu. Trong số đó, Tết Nguyên Đán lớn nhất, nên mới có tên Tết Cả.
Vì sao có tên Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền?
Mỗi tên gọi khác ra đời để phân biệt Tết Nguyên Đán với một thứ gì đó.
- Tết Ta đối lại với Tết Tây, tức ngày 1 tháng 1 dương lịch. Chữ “ta” ở đây mang nghĩa của mình, của người Việt.
- Tết Âm lịch nói rõ cách tính ngày: theo chu kì Mặt Trăng, nên mỗi năm rơi vào một ngày dương lịch khác nhau.
- Tết Cổ truyền nhấn vào phần phong tục được truyền từ đời này sang đời khác.
- Tết Cả là tết lớn nhất, đứng trên mọi cái tết khác trong năm.
Trong văn bản pháp luật, tên được dùng là “Tết Âm lịch”. Bộ luật Lao động 2019 (Điều 112) cho người lao động nghỉ Tết Âm lịch 5 ngày hưởng nguyên lương; ngày nghỉ cụ thể từng năm do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Từ ông Công ông Táo đến ngày khai hạ
Không khí Tết thường bắt đầu từ chiều 23 tháng Chạp, ngày cúng ông Công ông Táo. Nhiều nhà mua cá chép để “tiễn” Táo quân về trời, theo truyền thuyết kể trong truyện cổ tích về ba vị Táo quân. Cũng từ ngày này, nông thôn xưa dựng cây nêu trước nhà để trừ tà.
Những ngày giáp Tết là chợ Tết, gói bánh chưng, bánh tét, dọn nhà, sắm hoa. Chiều 30 (hoặc 29 nếu tháng thiếu) có bữa cơm tất niên và lễ cúng tiễn năm cũ. Đúng thời khắc chuyển năm là giao thừa, nhà nhà thắp hương cúng trời đất và tổ tiên.
Ba ngày đầu năm dành cho sum họp và thăm hỏi. Người đầu tiên bước vào nhà sau giao thừa được coi là người “xông đất”. Câu nói quen “mùng một Tết cha, mùng hai Tết mẹ, mùng ba Tết thầy” tóm gọn thứ tự đi chúc Tết của nhiều gia đình. Người lớn mừng tuổi trẻ nhỏ bằng phong bao đỏ. Vào mùng 3, mùng 4 hoặc mùng 5 tùy nhà, người ta làm lễ hóa vàng tiễn tổ tiên; mùng 7 là ngày khai hạ, hạ cây nêu, coi như khép lại dịp Tết.
Cách làm mỗi miền một khác. Mâm ngũ quả, loại bánh, ngày hóa vàng đều có thể đổi theo vùng và theo từng nhà, nên không có một “chuẩn” duy nhất.
Tết Nguyên Đán khác Tết Tây và Tết Đoan ngọ thế nào?
| Tiêu chí | Tết Nguyên Đán | Tết Dương lịch | Tết Đoan ngọ |
|---|---|---|---|
| Ngày | Mùng 1 tháng Giêng âm lịch | 1 tháng 1 dương lịch | Mùng 5 tháng 5 âm lịch |
| Tên gọi dân gian | Tết Ta, Tết Cả | Tết Tây | Tết diệt sâu bọ |
| Ý nghĩa chính | Mở đầu năm mới, sum họp, nhớ tổ tiên | Mốc năm mới theo lịch quốc tế | Giữa năm, trừ sâu bệnh, giữ sức khỏe |
| Nghỉ lễ | 5 ngày theo luật | 1 ngày theo luật | Không nghỉ |
Muốn biết thêm về cái tết rơi vào giữa năm, có thể đọc bài Tết Đoan ngọ và tục ăn rượu nếp.
Nửa tháng sau mùng Một còn một cái tết nữa là Tết Nguyên tiêu rằm tháng Giêng, đêm rằm đầu năm nhiều nhà đi chùa cầu an và nấu chè trôi nước.
Tết trong câu đối, ca dao và thơ
Hiếm câu nào gói được Tết xưa gọn như câu đối dân gian truyền miệng:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ,
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Mười bốn chữ, bày ra đủ cả mâm cỗ, sắc đỏ trên cửa, tiếng pháo và cây nêu. Hôm nay pháo nổ đã bị cấm, cây nêu và câu đối chữ Nho không còn nhiều nhà giữ, nhưng bánh chưng và dưa hành thì vẫn gần như không vắng mặt trên mâm Tết miền Bắc. Ai muốn tìm thêm thơ về những ngày này có thể xem tuyển tập thơ Tết cổ truyền cho cả nhà.
Thắc mắc thường gặp quanh ngày Tết Nguyên Đán
Tết Nguyên Đán còn được gọi là gì?
Tết Nguyên Đán còn được gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, hay chỉ ngắn gọn là Tết. Một số tài liệu còn dùng cách gọi Tết Á Đông vì nhiều nước trong vùng cũng đón năm mới âm lịch.
Tết Nguyên Đán là ngày nào?
Là ngày mùng 1 tháng Giêng âm lịch. Vì tính theo Mặt Trăng, ngày này xê dịch mỗi năm, sớm nhất là cuối tháng Một và muộn nhất khoảng giữa tháng Hai dương lịch.
Tết Ta và Tết Tây khác nhau ra sao?
Tết Ta là Tết Nguyên Đán theo âm lịch, gắn với phong tục cúng tổ tiên và sum họp. Tết Tây là ngày 1 tháng 1 dương lịch, mốc năm mới chung của thế giới, thường chỉ có một ngày nghỉ.
Những nước nào cũng ăn Tết Nguyên Đán?
Nhiều nước Đông Á đón năm mới âm lịch với tên gọi riêng: Trung Quốc gọi là Xuân Tiết (Tết mùa xuân), Hàn Quốc gọi là Seollal, Mông Cổ có Tsagaan Sar. Nhật Bản đã chuyển sang đón năm mới theo dương lịch từ cuối thế kỉ XIX.