Câu đối Tết là đôi câu gồm hai vế đối nhau về ý, về chữ và về thanh, viết lên giấy đỏ hoặc khắc gỗ để treo trong nhà, ngoài cửa dịp năm mới, gửi gắm lời chúc bình an, phúc lộc. Người xưa còn gọi là câu đối xuân hay liễn Tết. Phần cuối bài có tuyển những câu đối Tết hay, ngắn, kèm nghĩa từng câu.
| Nghĩa | Đôi câu đối dán hoặc treo dịp Tết để chúc năm mới |
| Tên gọi khác | Câu đối xuân, liễn Tết; tiếng Hán là xuân liên (春聯) |
| Gốc | Từ tục treo bùa gỗ đào (đào phù) của người Trung Hoa |
| Thời điểm | Treo từ những ngày cuối tháng Chạp, giữ suốt dịp Tết |
| Chữ viết | Chữ Hán, chữ Nôm, nay phổ biến chữ quốc ngữ viết thư pháp |

Câu đối Tết, đọc từng chữ thì sao?
Chữ đối (對) trong Hán Việt có nghĩa là ngang nhau, thành một đôi, như hai người ngồi đối diện. Câu đối vì thế là hai câu đứng thành cặp: câu thứ nhất gọi là vế trên (vế ra), câu thứ hai là vế dưới (vế đối). Thêm chữ Tết vào, ta có loại câu đối làm riêng cho dịp đầu năm, khác với câu đối mừng thọ, câu đối phúng viếng hay câu đối thờ treo quanh năm trong nhà thờ họ.
Về thể loại, câu đối thuộc lối văn biền ngẫu, đặt câu thành từng cặp song song. Nó ngắn hơn thơ nhưng bắt người viết cân từng chữ, nên xưa được coi là thú chơi của người có chữ.
Từ tấm gỗ đào trừ tà đến tờ giấy đỏ
Lối chơi này bắt nguồn từ Trung Hoa. Xưa kia người ta treo hai tấm gỗ đào hai bên cửa vào dịp năm mới, tin rằng gỗ đào xua được tà ma; tấm gỗ ấy gọi là đào phù. Dần dần, thay cho hình vẽ thần giữ cửa, người ta đề lên đó những câu chúc đẹp, rồi chuyển sang viết trên giấy đỏ.
Đôi câu thường được nhắc là câu đối xuân xưa nhất còn ghi lại do vua nước Hậu Thục thời Ngũ Đại là Mạnh Sưởng đề lên gỗ đào, vào thế kỷ X:
- Tân niên nạp dư khánh / Gia tiết hiệu trường xuân (新年納餘慶 / 嘉節號長春): Năm mới đón thêm điều vui, tiết đẹp gọi là xuân dài.
Sang Việt Nam, câu đối theo chân chữ Hán vào đời sống nhà nho, rồi được Việt hóa: có câu đối chữ Nôm, câu đối pha khẩu ngữ, về sau thêm câu đối chữ quốc ngữ. Cảnh ông đồ ngồi phố bày mực tàu giấy đỏ viết thuê ngày giáp Tết đã đi vào bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, như một hình ảnh của Tết xưa.
Một đôi câu đối “chỉnh” cần những gì?
Người xưa gọi đôi câu đối làm đúng phép là chỉnh đối. Muốn chỉnh, hai vế phải bằng nhau về số chữ và khớp nhau ở ba tầng:
- Đối ý: hai vế cùng nói về một chuyện, cân nhau, hoặc soi chiếu nhau.
- Đối loại chữ: danh từ đối danh từ, động từ đối động từ; vế này dùng chữ Hán thì vế kia cũng dùng chữ Hán.
- Đối thanh: chữ mang thanh bằng đứng đối với chữ mang thanh trắc và ngược lại, nhất là ở chữ cuối mỗi vế. Ai chưa rõ thanh nào là bằng, thanh nào là trắc có thể xem lại thanh bằng, thanh trắc của tiếng Việt.
Lấy câu Tết đến gia đình vui sum họp / Xuân về con cháu hưởng bình an làm ví dụ: “Tết đến” đối “Xuân về”, “gia đình” đối “con cháu”, “vui” đối “hưởng”, “sum họp” đối “bình an”. Chữ cuối vế trên là họp (thanh nặng, trắc), chữ cuối vế dưới là an (thanh ngang, bằng). Đó cũng là phép đối quen thuộc của thơ Đường luật; muốn luyện mắt nhận ra, có thể đọc thêm cách nhận ra phép đối trong câu.
Câu đối Tết treo bên nào?
Vế trên thường kết bằng thanh trắc, vế dưới kết bằng thanh bằng. Vì chữ Hán viết dọc và đọc từ phải sang trái, lệ thường là vế trên treo bên phải, vế dưới bên trái khi đứng trước cửa nhìn vào. Ở giữa, nhiều nhà treo thêm một chữ lớn như Phúc, Lộc.
Câu đối Tết hay, ngắn và nghĩa từng câu
Những câu dưới đây được truyền tụng rộng, phần lớn không rõ tác giả; vài câu có dị bản.
Câu đối Tết chữ Hán quen thuộc
- Thiên tăng tuế nguyệt nhân tăng thọ / Xuân mãn càn khôn phúc mãn đường: năm tháng của trời dài thêm thì tuổi người cũng dài thêm; xuân phủ khắp trời đất, phúc phủ khắp nhà. Có bản chép “niên tăng thọ”.
- Niên niên như ý xuân / Tuế tuế bình an nhật: Năm nào xuân cũng như ý, năm nào ngày cũng bình an. Hai vế đôi khi được đọc đảo thứ tự.
- Đa lộc, đa tài, đa phú quý / Đắc thời, đắc lợi, đắc nhân tâm: chúc lộc, tài, giàu sang đều nhiều, lại gặp đúng thời, có lợi và có lòng người. Câu hợp treo ở cửa hàng.
Câu đối Tết bằng tiếng Việt
- Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ / Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh: câu dân gian kê đủ cái Tết cổ truyền miền Bắc. Có bản đảo thành “Dưa hành, thịt mỡ, câu đối đẹp”.
- Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc / Tết về cây đức trổ thêm hoa: lấy hình ảnh cây cối để nói phúc đức của ông bà sinh ra lộc cho con cháu.
- Tết đến gia đình vui sum họp / Xuân về con cháu hưởng bình an: câu giản dị, dễ đọc, hợp cho học sinh tập viết thư pháp.
Câu đối Tết của nhà nho nghèo
Không phải câu đối Tết nào cũng trang nghiêm. Nguyễn Công Trứ, lúc còn hàn vi, có đôi câu tự trào nổi tiếng:
- Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa / Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
Hai chữ Bần và Phúc được nhân hóa thành hai “ông”, vế trên tống cái nghèo, vế dưới rước cái phúc. Câu này có dị bản “nợ réo tít mù”. Lối đùa với chữ như vậy gần với các lối chơi chữ trong tiếng Việt mà học sinh gặp trong chương trình Ngữ văn.
Câu đối Tết bây giờ được viết và treo ra sao?
Ít nhà còn mời ông đồ, nhưng câu đối vẫn có mặt: in sẵn trên giấy đỏ nhũ vàng bán ở chợ hoa, viết tại các phố ông đồ dịp cuối năm, hay làm bằng gỗ chạm treo cố định hai bên bàn thờ. Chữ quốc ngữ viết theo lối thư pháp chữ Hán và chữ Việt được nhiều người chuộng vì ai cũng đọc được.
Một chỗ hay sai: thấy hai câu đều chúc Tết là ghép thành câu đối. Hai câu chỉ thành đôi khi đếm đủ số chữ bằng nhau và dò được từng cặp chữ đứng đối nhau như ví dụ ở trên.
Viết, chọn và treo câu đối dịp đầu năm
Câu đối Tết ngắn nhất có mấy chữ?
Câu đối ngắn, gọi là tiểu đối, có từ bốn chữ mỗi vế trở xuống, ví dụ một đôi tự đặt: Mai vàng đón Tết / Pháo đỏ mừng xuân, chữ cuối Tết mang thanh trắc, xuân mang thanh bằng. Câu năm chữ và bảy chữ mỗi vế là phổ biến nhất trên giấy đỏ ngày Tết.
Câu đối Tết và câu chúc Tết khác nhau thế nào?
Câu chúc Tết có thể là một câu, một đoạn, nói tự do. Câu đối Tết luôn là hai vế bằng chữ, đối nhau từng cặp từ và thường đối thanh ở chữ cuối. Nhiều câu chúc quen như “An khang thịnh vượng” chỉ là một vế, chưa thành câu đối.
Học sinh có thể tự làm câu đối Tết không?
Được. Viết vế trên năm hoặc bảy chữ về Tết, rồi tìm từ đối cho từng chữ, chữ cuối đổi thanh. Không cần chữ Hán, miễn đọc lên cân và có ý chúc.