Mâm ngũ quả là mâm trái cây gồm khoảng năm loại quả, đặt lên bàn thờ ông bà, có nhà bày cả ở bàn khách, trong dịp Tết Nguyên đán để dâng cúng và gửi lời cầu một năm đủ đầy. Mỗi miền bày một kiểu: miền Bắc chuộng đủ màu, miền Nam chọn quả theo tên gọi “cầu sung vừa đủ xài”, miền Trung có gì cúng nấy.
| Nghĩa | Mâm năm thứ quả cúng tổ tiên ngày Tết |
| Chữ Hán | Ngũ (五) là năm, quả (果) là trái cây |
| Đặt ở đâu | Bàn thờ gia tiên, có nhà bày thêm ở bàn khách |
| Thời điểm | Bày từ trước giao thừa, giữ suốt những ngày Tết |
| Vùng miền | Bắc theo màu sắc, Nam theo tên quả, Trung giản dị theo mùa |

Mâm ngũ quả có nhất thiết đủ năm quả?
Chữ ngũ nghĩa là năm, nhưng trên thực tế ít ai đếm đúng năm quả. Một nải chuối, một quả bưởi, vài quả quýt, mấy chùm quất: số quả nhiều hơn năm, còn số loại quả thì thường quanh con số ấy. Nhiều nhà bày bốn, sáu, bảy loại vẫn gọi là mâm ngũ quả.
Lý do nằm ở nghĩa biểu tượng của con số. Trong quan niệm phương Đông, năm là con số của sự đủ: ngũ phương, ngũ sắc, ngũ vị, ngũ cốc, và nhất là ngũ hành Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. “Ngũ quả” vì thế được hiểu là đủ các thứ quả của đất trời, gom lên một mâm để dâng tổ tiên. Chọn con số lẻ cũng mang ý sinh sôi, phát triển.
Còn chữ quả gợi sự sung túc theo một lối khác: quả chứa hạt, hạt lại nảy mầm. Bày mâm quả là bày mong ước con cháu đông đúc, mùa màng nối tiếp.
Bày mâm ngũ quả theo ba miền thế nào?
Cùng tên gọi, nhưng mỗi vùng đặt lên mâm những thứ quả của đất mình, với một cách nghĩ riêng.
| Miền | Quả hay gặp | Cách nghĩ |
|---|---|---|
| Bắc | Chuối xanh, bưởi hoặc phật thủ, quất, hồng, quýt, táo, đào | Phối đủ màu theo ngũ hành; ít kiêng loại quả nào |
| Trung | Chuối, thanh long, dưa hấu, mãng cầu, dứa, cam, quýt | Có gì cúng nấy, miễn tươi và thành tâm |
| Nam | Mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài; thêm dứa (thơm), cặp dưa hấu | Đọc tên quả thành lời cầu “cầu sung vừa đủ xài” |
Miền Bắc: nải chuối ôm quả bưởi
Mâm truyền thống thường đặt nải chuối xanh xòe rộng ở dưới, như hai bàn tay đỡ lấy cả mâm, giữa là quả bưởi vàng hoặc quả phật thủ. Xung quanh chen quả đỏ, quả vàng cho rực. Năm màu thường được ghép theo ngũ hành: trắng (Kim), xanh (Mộc), đen (Thủy), đỏ (Hỏa), vàng (Thổ). Người miền Bắc không khắt khe chuyện tên quả, chỉ cần mâm nhiều sắc.
Miền Trung: giản dị, theo mùa
Đất miền Trung nắng gió, ít trái cây, nên người dân không nặng hình thức. Mâm quả mỗi nhà một khác, tùy vườn nhà có gì, chợ có gì. Ý chính vẫn là lòng thành với ông bà.
Miền Nam: chơi chữ trên mâm quả
Người Nam Bộ chọn quả theo tên đọc lên. Mãng cầu, sung, dừa (gần âm “vừa”), đu đủ, xoài (gần âm “xài”) ghép thành câu “cầu sung vừa đủ xài”: không mong giàu to, chỉ mong năm mới đủ ăn đủ tiêu. Hai bên bàn thờ thường thêm một cặp dưa hấu đỏ ruột.
Trái cây năm màu từ đâu mà có?
Không có tài liệu nào ghi rõ tục bày mâm ngũ quả có từ năm nào. Có thuyết truy về kinh Vu Lan Bồn của nhà Phật, nơi nhắc đến lễ vật “trái cây năm màu” dâng cúng chư Tăng trong mùa lễ Vu Lan và tích Mục Kiền Liên. Thuyết khác nhìn từ đời sống nhà nông: cư dân trồng lúa coi trọng ngũ cốc, coi quả trái là thành quả của đất, nên đầu năm dâng lên tổ tiên một mâm quả như dâng lời cầu được mùa.
Dù đi từ đâu, ở người Việt, mâm ngũ quả gắn chặt với bàn thờ gia tiên trong nhà. Nó thường được bày sau khi đã lau dọn bàn thờ cuối năm, đứng cạnh mâm cỗ, bánh chưng, hoa, và được hạ xuống chia cho cả nhà sau lễ hóa vàng cuối dịp Tết. Ngày nay, nhiều mâm quả được tạo hình cầu kì, mang ý trang trí cho không gian ngày xuân nhiều hơn ý nghĩa tâm linh.
Quả nào thường được tránh, vì sao?
Đây là quan niệm dân gian, mỗi vùng mỗi khác, không phải quy định. Người miền Nam thường không bày những quả có tên đọc lên nghe xui:
- Chuối: nghe như “chúi”, sợ làm ăn chúi nhủi.
- Cam: gợi câu “quýt làm cam chịu”.
- Lê: gợi chữ “lê lết”.
- Táo: người Nam gọi là “bom”, nghe như đổ vỡ.
Ngoài ra, nhiều nhà tránh quả có vị đắng, cay hoặc mùi quá nồng khi đặt lên bàn thờ. Điều thú vị là cùng nải chuối ấy, ra Bắc lại thành quả không thể thiếu: miền Bắc coi nó là bàn tay che chở, miền Nam lại né vì cái tên. Chính chỗ vênh ấy cho thấy mâm ngũ quả là lời cầu bằng ngôn ngữ của từng vùng.
Chọn quả, bày mâm và hạ mâm ngày Tết
Mâm ngũ quả gồm những quả gì?
Không có danh sách cố định. Miền Bắc hay dùng chuối xanh, bưởi, phật thủ, quất, hồng; miền Nam dùng mãng cầu, sung, dừa, đu đủ, xoài; miền Trung tùy mùa. Điều cần là quả tươi, lành lặn, đủ màu hoặc đủ ý.
Mâm ngũ quả bày lúc nào và để đến bao giờ?
Thường bày trong những ngày cuối năm, trước lễ tất niên hoặc trước giao thừa, và giữ suốt mấy ngày Tết. Quả nào chín héo thì thay bằng quả mới; hết Tết hạ mâm, chia cho cả nhà dùng.
Mâm ngũ quả miền Nam có chuối không?
Theo quan niệm truyền thống thì thường không, vì tên chuối nghe như “chúi nhủi”. Một số gia đình trẻ bây giờ không còn kiêng, nhưng mâm “cầu sung vừa đủ xài” vẫn là kiểu phổ biến.
Mâm ngũ quả có ý nghĩa gì với học sinh khi viết văn tả Tết?
Đây là chi tiết dễ tả mà giàu ý: màu sắc, cách xếp, tên quả, người bày mâm. Tả một mâm ngũ quả kèm lời giải thích của ông bà về từng loại quả là cách đưa phong tục vào bài văn tự nhiên hơn liệt kê.