Tám lần lều chõng vào trường thi Nam Định, chỉ đỗ được một cái tú tài hạng lấy thêm, rồi mất năm ba mươi bảy tuổi: đó là gần như toàn bộ “sự nghiệp” khoa cử của người sau này được Nguyễn Công Hoan gọi là bậc thần thơ thánh chữ. Tú Xương (1870 – 1907), tên thật Trần Tế Xương, là nhà thơ Nôm ở thành Nam cuối thế kỷ XIX, tác giả Vịnh khoa thi Hương, Thương vợ và hàng trăm bài thơ trào phúng truyền miệng.
Trần Duy Uyên, Trần Tế Xương, Trần Cao Xương

| Tên húy | Trần Duy Uyên; tên đi thi Trần Tế Xương (陳濟昌), khoa 1903 đổi là Trần Cao Xương |
| Tự, hiệu | Tự Mặc Trai, hiệu Mộng Tích, Tử Thịnh (theo Wikipedia) |
| Năm sinh – năm mất | 5/9/1870 (tức 10/8 năm Canh Ngọ) – 29/1/1907 |
| Quê quán | Làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định; sinh ở phố Hàng Nâu, thành Nam |
| Thể loại | Thơ Nôm Đường luật (thất ngôn bát cú, tứ tuyệt), lục bát, phú, văn tế, câu đối, hát nói |
| Tác phẩm tiêu biểu | Vịnh khoa thi Hương, Thương vợ, Văn tế sống vợ, Đất Vị Hoàng, Tự trào, Sông lấp |
| Học vị | Tú tài thiên thủ (lấy thêm), khoa Giáp Ngọ 1894 |
| Trong SGK | Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu / Vịnh khoa thi Hương (Ngữ văn 8 KNTT, Cánh diều), Tự trào I (Ngữ văn 8 CTST) |
Cái tên “Tú Xương” ghép từ học vị tú tài với chữ cuối trong tên. Chữ Xương (昌) ở đây nghĩa là thịnh vượng, không phải xương thịt. Năm 1903, sau nhiều lần hỏng, ông đổi chữ đệm Tế thành Cao để mong đổi vận, rồi lại hỏng, và tự giễu mình bằng hai câu còn được truyền đến nay:
Tế đổi làm Cao mà chó thế,
Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ôi!
Phố Hàng Nâu, thành Nam
Ông sinh ở nhà số 247 phố Hàng Nâu, thành phố Nam Định, trong một nhà nho nghèo. Theo Wikipedia, cha ông là cụ Trần Duy Nhuận, thi nhiều khoa không đỗ, sau làm chức tự thừa ở dinh đốc học Nam Định; Tú Xương là con trưởng. Tương truyền mười tuổi, có khách ra câu đối “Đình tiền ngũ sắc hoa” (trước sân hoa năm sắc), cậu bé chỉ lồng chim khướu mà đối “Lung trung bách thanh điểu” (trong lồng chim trăm tiếng).
Năm 1894, ngôi nhà 247 bị cháy, xây lại rồi mất vào tay người khác vì nợ nần. Gia đình chuyển sang nhà số 280 cùng phố, căn nhà do mẹ vợ chia cho con gái; nay căn nhà này đã được xếp hạng di tích lưu niệm, phố cũng đổi tên là Minh Khai. Người Nam Định có câu “Đọc thơ Xương, ăn chuối Ngự”, báo Tiền Phong từng dẫn lại, đặt thơ ông ngang với một đặc sản của đất thành Nam.
Đời ông nằm gọn trong những năm Nam Định, rồi cả Bắc Kỳ, rơi vào tay Pháp. Khi ông mười ba, mười bốn tuổi, các hòa ước 1883, 1884 đã thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp. Cái thành Nam nhốn nháo tây, đầm, quan sứ, me tây trong thơ ông là cái thành phố ông nhìn thấy hằng ngày.
Tám khoa thi và một cái tú tài thiên thủ
Ông đi thi từ năm mười bảy tuổi, cả thảy tám khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). Nhiều sách chép nhầm khoa đầu là Ất Dậu (1885); thực ra năm ấy kinh thành Huế có biến, khoa thi bị bãi, sang năm sau mới mở ân khoa.
Lần thứ tư, khoa Giáp Ngọ 1894, ông đỗ tú tài, nhưng chỉ là tú tài thiên thủ, tức được lấy thêm ngoài số chính. Thời ấy, tú tài không được thi Hội, không được bổ quan; muốn lên cử nhân phải chờ ba năm thi lại. Ông chờ thêm bốn khoa nữa và không lần nào đỗ.

Theo các chú thích thường gặp, từ năm 1886 người Pháp không cho thi ở Hà Nội nữa, sĩ tử cả Bắc Kỳ phải về trường Nam Định; khoa Đinh Dậu 1897 có cả quan chức Pháp và vợ đến dự lễ xướng danh. Cảnh ấy đi vào bài thơ nổi tiếng nhất của ông:
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.
Giáo sư Nguyễn Đình Chú, trong lời giới thiệu cuốn Tú Xương tác phẩm giai thoại (1986), cho rằng cái hỏng thi của Tú Xương có gốc ở chỗ con người nghệ sĩ của ông vênh với phép tắc trường quy (theo báo Tiền Phong dẫn lại).
Bà Tú ở mom sông
Năm mười sáu tuổi, ông lấy bà Phạm Thị Mẫn, gốc họ Phạm làng Lương Đường (Bình Giang, Hải Dương), một dòng họ có nhiều người đỗ đạt; gia đình bà đã chuyển về sống ở Nam Định. VnExpress ghi bà hơn ông một tuổi. Theo Wikipedia, hai người có tám người con.
Mọi việc nhà trông vào gánh buôn bán nhỏ của bà Tú. Ông chồng không giấu điều đó, trái lại đem nó vào thơ:
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Bài Thương vợ là lời tri ân hiếm thấy trong thơ trung đại, khi người chồng nhà nho tự nhận mình là gánh nặng của vợ. Ông còn làm hẳn một bài Văn tế sống vợ, giọng đùa mà thương. Hình tượng bà Tú hiện là đề tài một văn bản nghị luận trong sách Ngữ văn 9 của Chu Văn Sơn.
Thơ truyền miệng: vì sao không ai biết chắc ông viết bao nhiêu bài
Tú Xương không để lại di cảo. Sinh thời, ông làm thơ đọc cho vợ con, bạn bè nghe, rồi thơ tự lan đi. Thành Nam khi ấy nhiều người hay thơ cùng giọng, ba năm một lần sĩ tử cả Bắc Kỳ lại kéo về thi, nên thơ ông lẫn với thơ người khác từ rất sớm.
Theo Wikipedia, những bài đầu tiên được in rải rác trên tạp chí Nam Phong từ năm 1918. Sở Cuồng Lê Dư in Vị Xuyên thi văn tập năm 1931 nhưng chép nhầm tên ông là Trần Kế Xương; phải đến cuốn của Vũ Đăng Văn (1951) tên ông mới được đính chính. Công trình kỹ nhất là Tú Xương tác phẩm giai thoại (Hội Văn học nghệ thuật Hà Nam Ninh, 1986) do Nguyễn Văn Huyền chủ biên: chọn ra 134 bài được xác định là của Tú Xương và loại 68 bài, có giải thích từng trường hợp. VnExpress ghi gọn: các nhà nghiên cứu tìm được trên 100 bài thơ Nôm của ông.
Ông nổi tiếng với thơ Nôm, nhưng không phải không biết chữ Hán. Báo Tiền Phong từng giới thiệu bản dịch bài Xuân dạ hỉ vũ của Đỗ Phủ do Tú Xương chuyển sang thơ Nôm, in trong cuốn Tú Xương, con người và nhà thơ (1961) của Trần Thanh Mại, Trần Tuấn Lộ.
Cười người và cười mình
Đối tượng tiếng cười của Tú Xương rất rộng: quan trường, ông cử ông nghè mới đỗ, me tây, ông cò, những kẻ chạy chọt làm quan, và trước hết là chính ông. Trong Tự trào, trong Phỗng sành, ông vẽ mình là kẻ ăn lương vợ, rượu chè cờ bạc, “dài lưng tốn vải”. Tiếng cười tự giễu ấy làm cho những bài châm biếm người khác của ông có sức nặng: người cười không tự đặt mình ở chỗ cao hơn.
Song song với trào phúng là mạch trữ tình buồn: Đất Vị Hoàng, Sông lấp, những bài than thân, nhớ một thành Nam đã đổi khác. Về nghệ thuật, nói gọn: tiếng Việt đời thường, cả khẩu ngữ, được đưa vào khuôn thơ Đường luật một cách tự nhiên; phân tích kỹ có ở bài phong cách sáng tác của Tú Xương.
Một số bài giới thiệu gọi ông là “ông hoàng thơ Nôm trào phúng” và kể ông thân thiết, cùng sáng tác với Nguyễn Khuyến, nhưng cả hai điều này đều chưa có nguồn đáng tin. Hai ông là hai nhà thơ trào phúng lớn cùng thời, Nguyễn Khuyến hơn Tú Xương ba mươi lăm tuổi; người ta thường đặt thơ hai ông cạnh nhau để so sánh, chứ không có tư liệu nào cho thấy họ làm thơ chung.
Tú Xương trong sách giáo khoa Ngữ văn
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 4 (Tiếng cười trào phúng trong thơ) | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm |
| Vịnh khoa thi Hương (cùng bài trên, khác nhan đề) | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 – Bài 7 (Thơ Đường luật) | Soạn bài Vịnh khoa thi Hương |
| Tự trào I | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 10 (đọc mở rộng theo thể loại) | Soạn bài Tự trào I |
| Về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” (Chu Văn Sơn) | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài |
| Thương vợ | Ngữ văn 11, tập 1 (chương trình 2006) | Thương vợ: tác giả – tác phẩm · Phân tích |
Hai nhan đề Vịnh khoa thi Hương và Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu chỉ cùng một bài thơ, sách Kết nối tri thức dùng tên thứ hai. Cần dàn ý cho bài Thương vợ có thể xem mở bài Thương vợ và kết bài Thương vợ; tuyển các bài thơ khác của ông nằm ở tuyển tập thơ Tú Xương.
Ba mươi bảy năm và một trăm năm sau
Ông mất ngày 29/1/1907 ở Nam Định, khi chưa tròn ba mươi bảy tuổi; theo Wikipedia, mộ ông ở thành phố Nam Định, gần tượng đài Trần Hưng Đạo. Cũng theo nguồn này, không tài liệu nào lưu được ảnh của ông; hình dung về ông chủ yếu dựa vào bài thơ của người bạn học Lương Ngọc Tùng tả lại dáng người “cụ Tú”.
Nửa thế kỷ sau, các nhà văn lớn trở lại với ông. Nguyễn Công Hoan, trong bài Thơ Tú Xương trên tạp chí Văn nghệ tháng 1/1963, suy tôn ông là bậc “thần thơ thánh chữ”. Nguyễn Tuân, trong bài Thời và thơ Tú Xương (1961), ghi công ông trong việc xây dựng tiếng nói văn chương Việt Nam. Xuân Diệu viết tiểu luận Đọc thơ Tú Xương nhân dịp kỷ niệm một trăm năm ngày sinh nhà thơ (1970). Tên ông nay được đặt cho nhiều đường phố.