Mở bài Thương vợ là phần dẫn vào bài nghị luận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương). Bài thơ từng được học ở Ngữ văn 11 chương trình cũ, nay học sinh tiếp cận qua văn bản Về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” của Chu Văn Sơn, Bài 2 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập 1). Mở bài hay cần phác họa người vợ đảm đang ấy cùng tấm lòng vừa thương vừa biết ơn của nhà thơ. Dưới đây là 13 mẫu mở bài Thương vợ viết sẵn: trực tiếp, gián tiếp, theo dạng đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Thương vợ
- Gọi đúng tên tác giả: Tú Xương (Trần Tế Xương, 1870–1907) và tên bài thơ Thương vợ ngay trong mở bài.
- Nêu vấn đề theo đề bài: chân dung bà Tú, tâm sự của ông Tú, hay giá trị cả bài; tránh kể lể tiểu sử quá dài.
- Mở gián tiếp nên đi từ điều gắn chặt với bài thơ: mảng thơ trữ tình của Tú Xương, hình ảnh thân cò quen thuộc của ca dao, chuyện thơ xưa ít viết về vợ.
- Dẫn câu thơ hay nhận định thì chép đúng chữ, ghi rõ người nói, rồi quay về bài thơ trong một hai câu.
Mở bài trực tiếp Thương vợ
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Tú Xương được biết đến nhiều nhất qua những vần thơ cười cợt sắc sảo, nhưng ông cũng có những bài thơ trữ tình rất đằm thắm. Thương vợ là bài thơ như thế: tám câu thơ dành cho bà Tú, người đàn bà buôn bán vất vả nuôi cả nhà, từ đó Tú Xương nói lên lòng thương quý, biết ơn vợ và tự trách mình.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Trần Tế Xương, thường gọi là Tú Xương, sinh năm 1870 và mất năm 1907, quê làng Vị Xuyên thuộc huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Cuộc đời ông gắn với tám khoa thi lận đận mà chỉ giành được mảnh bằng tú tài, nên gánh nặng gia đình phần lớn dồn lên vai người vợ là bà Phạm Thị Mẫn. Bài thơ Thương vợ, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, ra đời từ chính hoàn cảnh ấy. Bằng lời thơ giản dị, giàu chất dân gian, Tú Xương đã ghi lại hình bóng người vợ lam lũ mà hết lòng vì chồng con, đồng thời bộc lộ tình thương vợ sâu sắc cùng nỗi day dứt của một người chồng tự thấy mình chưa làm tròn bổn phận.
Mở bài gián tiếp Thương vợ
Mẫu 3 – từ hai mảng thơ trào phúng và trữ tình
Nhắc đến Tú Xương, người ta nghĩ ngay tới tiếng cười chua chát nhắm vào cảnh thi cử nhốn nháo, vào lũ người lố lăng nơi phố thị buổi Tây sang. Thế nhưng thơ Tú Xương không chỉ có trào phúng; bên cạnh đó là một mảng trữ tình sâu lắng không kém. Muốn thấy rõ điều ấy, hãy đọc Thương vợ. Ở bài thơ này, tiếng cười lùi lại phía sau, nhường chỗ cho tấm lòng của một người chồng nhìn vợ mình vất vả mà vừa xót xa, vừa biết ơn, vừa tự giận chính mình.
Mẫu 4 – từ đề tài người vợ trong thơ xưa
Thơ ca trung đại hiếm khi dành chỗ cho người vợ. Nếu có, thường là những bài khóc vợ, viết lúc người vợ đã qua đời. Bà Tú may mắn hơn nhiều người phụ nữ cùng thời: ngay lúc còn đang tất tả ngoài bến sông, bà đã bước vào thơ chồng với tất cả sự trân trọng. Bài thơ Thương vợ của Tú Xương vì thế mang một vẻ mới mẻ hiếm có. Nhà thơ không ca ngợi một giai nhân đài các, mà kể về người vợ lam lũ lo cơm áo cho chồng con, và qua đó nói lên tình nghĩa vợ chồng chân thành, mộc mạc mà sâu nặng.
Mẫu 5 – từ con đường khoa cử lận đận của Tú Xương
Tú Xương đi thi tám khoa, mãi đến lần thứ tư mới đỗ tú tài, rồi dừng lại ở đó suốt đời. Xuân Diệu từng viết về ông hai câu thơ nổi tiếng: “Ông nghè ông thám vô mây khói / Đứng lại văn chương một tú tài”. Văn chương thì ở lại, nhưng cơm áo hằng ngày lại do bà Tú lo liệu. Chính vì thấm thía điều ấy, Tú Xương đã viết Thương vợ, bài thơ vừa vẽ nên dáng hình người vợ tảo tần nơi bến sông, vừa là lời một nhà nho nghèo tự trách khi thấy mình thành gánh nặng của gia đình.
Mẫu 6 – từ xã hội buổi giao thời
Cuối thế kỉ XIX, đất Nam Định chứng kiến cảnh Tây – ta lẫn lộn, nền nho học suy tàn, đồng tiền chen vào mọi quan hệ. Tú Xương sống giữa cảnh nhố nhăng ấy và dùng tiếng cười để chế giễu nó. Nhưng giữa những giá trị đang đổ vỡ, nhà thơ vẫn giữ được một điều thiêng liêng là tình thương dành cho người vợ. Thương vợ là kết tinh của tình cảm đó. Bài thơ cho thấy hình ảnh bà Tú nhẫn nại, cần mẫn và tấm lòng tri ân của ông Tú, một tình cảm hiếm thấy trong văn chương của các nhà nho thời bấy giờ.
Mẫu 7 – từ hình ảnh con cò trong ca dao
Trong ca dao, con cò là hình ảnh quen thuộc của người nông dân, nhất là những người đàn bà lam lũ, kiếm sống nhọc nhằn bên bờ ao, bờ ruộng, như câu ca dao về con cò lặn lội bờ sông gánh gạo đưa chồng. Đến cuối thế kỉ XIX, hình ảnh ấy trở lại trong thơ Tú Xương, nhưng giờ đây gắn với một con người có thật: bà Tú. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng”, câu thơ trong bài Thương vợ đã nói thay bao nhọc nhằn bà Tú phải chịu và chứa đựng tình thương, sự cảm phục mà nhà thơ dành cho bà.
Mẫu 8 – so sánh với Tự tình của Hồ Xuân Hương
Văn học trung đại có không ít trang viết về thân phận người phụ nữ. Với Tự tình, Hồ Xuân Hương tự cất lên tiếng nói của người trong cuộc, vừa xót xa vừa phẫn uất trước duyên phận hẩm hiu. Gần một thế kỉ sau, Tú Xương lại nhìn người phụ nữ từ một vị trí khác: vị trí của người chồng. Trong bài Thương vợ, ông không để vợ tự kể khổ mà tự mình nói thay, bằng cái nhìn thấu hiểu, đầy biết ơn. Bài thơ vì vậy vừa là bức chân dung bà Tú đảm đang, vừa là tấm lòng hiếm có của một đấng nam nhi dám nhận phần lỗi về mình.
Mẫu 9 – từ hình ảnh mom sông
Ở thành Nam xưa, dòng sông Vị chảy qua những bãi bồi, những doi đất nhô ra mặt nước, nơi người ta họp chợ, mua bán ngược xuôi. Một trong những bóng người vất vả trên khúc sông ấy đã đi vào thơ ca: đó là bà Tú. Tú Xương mở đầu bài Thương vợ bằng câu thơ “Quanh năm buôn bán ở mom sông”, vừa chỉ một chốn mưu sinh chênh vênh, vừa gợi cả quãng đời tất bật không ngơi nghỉ của người vợ. Từ hình ảnh đó, bài thơ mở ra tình thương, lòng quý trọng và cả sự tự trách mà nhà thơ gửi tới người vợ của mình.
Mở bài Thương vợ theo từng dạng đề
Mẫu 10 – đề phân tích hình tượng bà Tú
Trong thơ Tú Xương có một người phụ nữ xuất hiện nhiều lần, khi trong câu đối Tết, khi trong bài văn tế sống, nhưng để lại ấn tượng sâu nhất là ở bài Thương vợ. Bà Tú hiện lên trong tám câu thơ ấy là người vợ quanh năm buôn bán, một mình lo cho năm đứa con và cả ông chồng chưa kiếm ra tiền. Không phàn nàn, không kể công, bà lặng lẽ chịu đựng mọi vất vả như một lẽ tự nhiên. Phân tích hình tượng bà Tú, ta sẽ thấy vẻ đẹp cần cù, nhẫn nại, quên mình của những người đàn bà Việt thuở trước.
Mẫu 11 – đề phân tích tâm sự của ông Tú
Đọc bài Thương vợ, người ta thường chú ý trước hết đến bà Tú. Nhưng phía sau bức chân dung ấy còn có một nhân vật nữa, tuy không tự giới thiệu mà vẫn có mặt trong từng câu thơ: đó là ông Tú. Chính ông đã đếm mình như một đứa con phải nuôi, đã thay vợ nói lời cam chịu, rồi đến cuối bài thì bật lên tiếng chửi “thói đời” và tự rủa mình là kẻ làm chồng hờ hững. Tìm hiểu tâm sự của Tú Xương trong bài thơ này, ta hiểu thêm một nhân cách đáng quý: biết thương, biết ơn và dám tự nhận lỗi.
Mẫu 12 – đề phân tích bốn câu thơ đầu
Chỉ trong bốn câu thơ đầu bài Thương vợ, Tú Xương đã kể đủ về công việc, nơi chốn và những gì bà Tú phải gánh. Hai câu đề kể rằng bà buôn bán suốt năm ở mom sông để nuôi đủ cả chồng lẫn con. Hai câu thực mượn hình ảnh thân cò của ca dao và cảnh chen chúc buổi đò đông để nói về nỗi vất vả, đơn chiếc lẫn những hiểm nguy rình rập. Phân tích đoạn thơ này, ta thấy được bà Tú vất vả mưu sinh ra sao, cùng tấm lòng thấu hiểu, xót thương của nhà thơ.
Mở bài Thương vợ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – từ chữ “thương” trong nhan đề
Trong tiếng Việt, chữ “thương” chứa đựng nhiều tầng nghĩa: thương là yêu, là xót, là cảm thông, có khi còn là thấy mình mắc nợ người kia. Hiếm có nhan đề nào gói được nhiều tầng nghĩa ấy như hai tiếng Thương vợ của Tú Xương. Nhà nho nghèo đất Vị Xuyên không làm thơ để tán dương vợ bằng những lời bay bổng. Ông chỉ kể ra những điều có thật: người vợ quanh năm ở mom sông, những buổi đò đông chen lấn, năm nắng mười mưa chẳng dám quản ngại. Rồi chính ông thừa nhận sự có mặt của mình chẳng khác gì vắng mặt. Đọc bài thơ, ta hiểu tình thương thật sự không nằm ở lời hoa mĩ, mà ở chỗ biết nhìn thấu nỗi vất vả của người mình yêu và dám nhận phần thiếu sót về mình.
Nên chọn mẫu mở bài Thương vợ nào?
Mở bài Thương vợ cần gọi đúng tên Tú Xương, khái quát hình ảnh bà Tú cùng tình cảm của nhà thơ, rồi dẫn thẳng vào vấn đề mà đề bài hỏi. Bài kiểm tra ngắn có thể dùng mẫu trực tiếp; bài viết dài hoặc thi học sinh giỏi nên chọn mẫu gián tiếp có dẫn ca dao, nhận định hay so sánh. Đề chỉ hỏi hình tượng bà Tú, ông Tú hay một đoạn thơ thì dùng đúng mẫu theo dạng đề. Em nên viết lại bằng giọng văn của mình cho tự nhiên.
Xem thêm:
- Soạn bài Về hình tượng bà Tú trong bài Thương vợ – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
- Thương vợ – Tú Xương: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- 12+ bài phân tích Thương vợ điểm cao
- Giới thiệu tác giả Tú Xương: quê quán, cuộc đời, sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Tú Xương
- Kết bài Thương vợ hay nhất – 12 mẫu ngắn gọn, mở rộng, theo đề