Kết bài Thương vợ là đoạn khép lại bài nghị luận về bài thơ Thương vợ của Tú Xương (Trần Tế Xương). Bài thơ từng có trong Ngữ văn 11 chương trình cũ, nay học sinh gặp lại qua văn bản Về hình tượng bà Tú trong bài “Thương vợ” của Chu Văn Sơn, Bài 2 sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo (tập 1). Kết bài cần đánh giá được vẻ đẹp bà Tú, tấm lòng ông Tú và chất dân gian của lời thơ. Bài gồm 12 mẫu kết bài Thương vợ viết sẵn: ngắn gọn, tổng kết, mở rộng và theo dạng đề.

Cách viết kết bài Thương vợ
- Nhắc lại tên Thương vợ và Tú Xương, khái quát vấn đề vừa phân tích, không chép lại từng câu thơ.
- Đánh giá cả nội dung (bà Tú tần tảo, ông Tú thương vợ và tự trách) lẫn nghệ thuật (ca dao, thành ngữ, phép đối, giọng tự trào).
- Đề hỏi riêng bà Tú, ông Tú hay một đoạn thơ thì khép vào đúng phần đó trước, sau mới mở rộng ra cả bài.
- Phần liên hệ nên cụ thể: lòng biết ơn người mẹ, người vợ, sự sẻ chia trong gia đình hôm nay.
Kết bài Thương vợ ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Với tám câu thơ giản dị, Thương vợ đã dựng nên dáng hình một bà Tú cần mẫn, nhẫn nại và hết lòng vì chồng con. Đằng sau bức chân dung ấy là tình thương, sự biết ơn cùng nỗi tự trách rất thật của Tú Xương.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Bài thơ Thương vợ đã làm hiện lên rõ nét bà Tú: một người vợ buôn bán quanh năm, vượt qua bao nắng mưa, bao chen lấn để nuôi cả gia đình mà không một lời than. Qua đó, Tú Xương bày tỏ lòng yêu quý, kính trọng dành cho vợ, đồng thời tự phán xét mình cùng những thói tục bất công của xã hội. Về nghệ thuật, bài thơ giữ khuôn thất ngôn bát cú Đường luật nhưng lời lẽ gần gũi như tiếng nói hằng ngày, khéo vận dụng hình ảnh con cò, thành ngữ dân gian và giọng tự trào hóm hỉnh mà chua xót. Nhờ vậy, Thương vợ trở thành bài thơ trữ tình cảm động bậc nhất của Trần Tế Xương.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí trong sự nghiệp Tú Xương
Nếu chỉ đọc thơ trào phúng, ta mới biết một nửa Tú Xương. Thương vợ cho thấy nửa còn lại: một tâm hồn giàu yêu thương, biết lắng nghe nỗi vất vả của người bên cạnh. Bởi thế, có thể nói thơ Tú Xương có cả hai mảng trào phúng và trữ tình, và mảng nào cũng đặc sắc. Bài thơ đứng vào hàng đầu của mảng trữ tình ấy, góp phần làm nên tên tuổi của nhà thơ thành Nam trong nền thơ ca những năm cuối thế kỉ XIX.
Kết bài Thương vợ mở rộng, liên hệ
Mẫu 4 – từ người chồng vắng mặt mà hiện diện
Đọc kĩ bài Thương vợ, ta nhận ra ông Tú hầu như không đứng ra kể về mình, vậy mà ở đâu cũng thấy ông. Ông có mặt khi tự xếp mình vào hàng những miệng ăn cần vợ nuôi, trong ánh nhìn dõi theo vợ lúc vắng người cũng như lúc đò đông, và rõ nhất trong lời tự trách cuối bài. Tú Xương đã nhìn vợ bằng con mắt thấu hiểu và nhìn mình bằng con mắt nghiêm khắc. Chính điều đó khiến Thương vợ vượt lên trên một lời khen tặng vợ để trở thành bài học về sự tự vấn của một người chồng.
Mẫu 5 – khép lại bằng chất dân gian của lời thơ
Sức sống lâu bền của Thương vợ có phần lớn đến từ chất dân gian thấm trong từng câu chữ. Tú Xương đưa vào thơ hình ảnh thân cò của ca dao, các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “năm nắng mười mưa”, cùng tiếng chửi đời rất bình dân ở hai câu kết. Thể thơ Đường luật vốn trang trọng, nhờ vậy trở nên gần gũi như lời nói của người buôn bán nhỏ. Bài thơ cho thấy tài năng của Trần Tế Xương trong việc đem tiếng nói đời thường vào thơ chữ Nôm, để tình thương vợ được cất lên giản dị mà ám ảnh.
Mẫu 6 – liên hệ người phụ nữ hôm nay
Hơn một trăm năm đã qua, những người đàn bà giống bà Tú vẫn có mặt quanh ta: người mẹ dậy sớm ra chợ, người vợ vừa đi làm vừa lo toan cơm nước cho cả nhà. Đọc Thương vợ của Tú Xương, em thấy mình cần biết nhìn kĩ hơn những vất vả thầm lặng ấy và nói lời cảm ơn khi còn có thể. Bài thơ cũng nhắc mỗi người, nhất là những người đàn ông, rằng hạnh phúc gia đình cần được sẻ chia chứ không thể đặt hết lên đôi vai một người phụ nữ.
Mẫu 7 – mở rộng sang Tự tình của Hồ Xuân Hương
Đặt Thương vợ bên cạnh Tự tình của Hồ Xuân Hương, ta thấy hai cách nhìn bổ sung cho nhau về người phụ nữ xưa. Nữ sĩ họ Hồ tự kể nỗi đau duyên phận bằng giọng uất ức, muốn vùng lên. Tú Xương thì đứng ở vị trí người chồng, nhìn vợ chịu thương chịu khó mà vừa cảm phục vừa xót xa. Một tiếng nói từ bên trong, một tiếng nói từ bên cạnh, cả hai cùng làm sáng lên cảm hứng nhân đạo của văn học trung đại. Riêng bài Thương vợ còn có giá trị đặc biệt vì nó cho thấy một người đàn ông thời phong kiến biết cúi mình trước công lao của vợ.
Mẫu 8 – trở lại câu thơ mở đầu
Khép bài thơ lại, câu mở đầu “Quanh năm buôn bán ở mom sông” vẫn còn vang mãi trong lòng người đọc. Hai chữ “quanh năm” không chỉ đo một khoảng thời gian, mà còn đo cả một đời người vợ lặng lẽ hi sinh. Tú Xương đã ghi lại điều ấy bằng tất cả sự biết ơn của mình, để rồi bà Tú bước ra khỏi khúc sông Vị nhỏ bé mà sống lâu dài trong văn chương. Đó là món quà quý nhất mà nhà thơ nghèo có thể dành tặng người bạn đời qua bài Thương vợ.
Kết bài Thương vợ theo từng dạng đề
Mẫu 9 – đề phân tích hình tượng bà Tú
Qua bài thơ Thương vợ, bà Tú hiện lên với vẻ đẹp của sự đảm đang, nhẫn nại và lòng vị tha. Bà gánh vác cả gia đình, coi mọi vất vả là phận mình, không một lời kể công hay oán trách. Bằng tấm lòng yêu thương, quý trọng, Tú Xương đã nâng hình ảnh người vợ của mình thành hình tượng tiêu biểu cho phẩm chất của những người đàn bà Việt thuở xưa: vất vả mà không than, thiệt thòi mà vẫn hết lòng vì chồng con.
Mẫu 10 – đề phân tích hai câu kết
Hai câu kết của bài Thương vợ là lúc cảm xúc của Tú Xương dâng lên mạnh nhất. Câu “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc” là tiếng chửi bật ra để trách cái xã hội đã đẩy người phụ nữ vào cảnh cực nhọc, còn câu “Có chồng hờ hững cũng như không” là lời tự rủa thẳng thắn của chính ông. Hiếm có nhà nho nào dám tự hạ mình như vậy. Hai câu thơ cho thấy nhân cách đáng quý của Tú Xương: biết thương vợ đến mức thấy mình có lỗi, và dám nói lên điều đó giữa một xã hội trọng nam khinh nữ.
Mẫu 11 – đề phân tích bốn câu thơ đầu
Bốn câu thơ đầu bài Thương vợ đã vẽ ra cuộc mưu sinh đầy nhọc nhằn của bà Tú, từ thời gian, nơi chốn đến những hiểm nguy rình rập. Tú Xương không cần nhiều lời bình luận, chỉ bằng cách đếm “năm con với một chồng”, bằng thân cò lặn lội nơi vắng người và phép đối giữa quãng vắng với buổi đò đông, nhà thơ đã cho thấy sức chịu đựng phi thường của vợ. Đoạn thơ là nền tảng để cảm xúc thương vợ và tự trách được đẩy lên ở những câu tiếp theo.
Kết bài Thương vợ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 12 – khép lại bằng suy ngẫm về tình thương
Có những bài thơ tình được viết bằng ngôn ngữ của hoa và trăng, còn Thương vợ được viết bằng ngôn ngữ của bến sông và gánh hàng. Tú Xương không hứa hẹn, không thề thốt; ông chỉ nhìn thật kĩ cuộc đời người vợ, kể lại bằng những từ ngữ mộc mạc nhất, rồi tự đặt mình lên bàn cân và nhận phần thua thiệt về mình. Chính sự chân thật đó khiến bài thơ vượt qua giới hạn của một tâm sự riêng để trở thành tiếng nói tri ân những người phụ nữ âm thầm gánh vác gia đình. Hơn một thế kỉ sau, bài thơ vẫn nhắc ta rằng yêu thương không chỉ là cảm xúc, mà còn là sự thấu hiểu, biết ơn và trách nhiệm với người đang hi sinh vì mình.
Nên chọn mẫu kết bài Thương vợ nào?
Kết bài Thương vợ cần khép lại đúng vấn đề vừa phân tích, khẳng định được vẻ đẹp của bà Tú, tình cảm của Tú Xương và cái hay của lời thơ đậm màu dân gian. Bài kiểm tra ngắn nên chọn mẫu ngắn gọn hoặc tổng kết; bài viết dài, bài thi học sinh giỏi có thể dùng mẫu liên hệ, mở rộng hay mẫu nâng cao. Đề hỏi riêng bà Tú, ông Tú hoặc một đoạn thơ thì chọn mẫu theo dạng đề. Hãy viết lại bằng lời văn riêng để bài làm tự nhiên.
Xem thêm:
- Soạn bài Về hình tượng bà Tú trong bài Thương vợ – Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo
- Thương vợ – Tú Xương: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- 12+ bài phân tích Thương vợ điểm cao
- Giới thiệu tác giả Tú Xương: quê quán, cuộc đời, sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Tú Xương
- Mở bài Thương vợ hay nhất – 13 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao