Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, còn được biết đến với nhan đề Vịnh khoa thi Hương, là bài thơ trào phúng nổi tiếng của Trần Tế Xương (Tú Xương). Bài thơ được học ở Bài 4 “Tiếng cười trào phúng trong thơ” sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức (tập 1, nhan đề Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu) và Bài 7 “Thơ Đường luật” sách Ngữ văn 8 Cánh diều (tập 2, nhan đề Vịnh khoa thi Hương). Bài viết tổng hợp kiến thức về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung và nghệ thuật, dùng được cho cả hai bộ sách.

Nội dung văn bản Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
Bài thơ viết bằng chữ Nôm theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Dưới đây là văn bản theo sách giáo khoa:
Nhà nước ba năm mở một khoa,
Trường Nam thi lẫn với trường Hà.
Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.
Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,
Váy lê quét đất mụ đầm ra.
Nhân tài đất Bắc nào ai đó,
Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.
Một số chú thích cần nhớ: trường Nam là trường thi Nam Định, trường Hà là trường thi Hà Nội; từ năm 1886, trường thi Hà Nội bị bãi bỏ, sĩ tử Hà Nội phải xuống thi chung ở Nam Định. Lọ là lọ đựng nước, vì thí sinh phải mang đồ ăn uống vào trường thi. Một số bản chép câu năm là “Cờ cắm rợp trời”. Đáp án câu hỏi đọc hiểu trong sách Kết nối tri thức có ở bài Soạn bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu.
Thông tin tác giả Trần Tế Xương
Trần Tế Xương (1870 – 1907), thường gọi là Tú Xương, quê ở làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc thành phố Nam Định). Ông sống ngắn ngủi, chỉ 37 năm, trong giai đoạn xã hội thực dân nửa phong kiến mới hình thành, khi nền Hán học suy tàn và lối sống thành thị lai căng đang lan rộng.
Tú Xương đi thi từ năm mười lăm tuổi, trải qua nhiều khoa thi Hương nhưng chỉ đỗ tú tài ở khoa Giáp Ngọ (1894). Con đường khoa cử lận đận khiến ông thấm thía nỗi nhục của kẻ sĩ giữa buổi giao thời và trở thành chất liệu cho nhiều bài thơ.
Sáng tác của Tú Xương gồm khoảng hơn một trăm bài, chủ yếu là thơ Nôm, ngoài ra còn có văn tế, phú, câu đối. Thơ ông có hai mảng: trào phúng và trữ tình. Mảng trào phúng phơi bày bức tranh xã hội thành thị nhố nhăng với những hạng người lố lăng, giả dối; mảng trữ tình bộc lộ tâm sự thương vợ, thương mình, nỗi đau trước cảnh nước mất. Những bài thơ tiêu biểu: Thương vợ, Vịnh khoa thi Hương, Đất Vị Hoàng, Năm mới chúc nhau, Sông Lấp… Ông được xem là bậc thầy của thơ trào phúng Việt Nam với ngòi bút sắc sảo, ngôn ngữ giản dị, giàu tính khẩu ngữ.
Thông tin tác phẩm Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
Hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ ra đời sau khoa thi Hương năm Đinh Dậu (1897) tổ chức tại Nam Định, khoa thi mà chính Tú Xương là một sĩ tử dự thi. Lúc bấy giờ, thực dân Pháp đã cơ bản đặt xong ách đô hộ, việc học chữ Nho và thi cử phong kiến chỉ còn là hình thức. Kì thi năm ấy có quan chức Pháp cùng vợ đến dự lễ xướng danh (sách giáo khoa chú thích là Toàn quyền Đông Dương Pôn Đu-me cùng vợ), biến buổi lễ trọng đại của nhà nho thành cảnh tượng nhục nhã.
Ý nghĩa nhan đề
“Lễ xướng danh” là lễ đọc tên những người thi đỗ. Nhan đề Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu nhấn vào thời điểm và sự kiện cụ thể; nhan đề Vịnh khoa thi Hương gợi cái nhìn bao quát cả kì thi. Dù với nhan đề nào, bài thơ đều ghi lại cảnh trường thi ô hợp và nỗi đau của nhà thơ trước tình cảnh đất nước.
Thể loại
Thơ thất ngôn bát cú Đường luật viết bằng chữ Nôm, thuộc mảng thơ trào phúng (có kết hợp trữ tình ở hai câu cuối).
Phương thức biểu đạt
Biểu cảm kết hợp với tự sự và miêu tả.
Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu có bố cục mấy phần?
Bài thơ có bố cục 4 phần theo kết cấu đề – thực – luận – kết:
- Hai câu đề: giới thiệu kì thi, sự khác thường trong cách tổ chức (trường Nam thi lẫn trường Hà).
- Hai câu thực: hình ảnh sĩ tử lôi thôi và quan trường ậm ọe.
- Hai câu luận: cảnh đón rước quan sứ và mụ đầm phô trương, lố bịch.
- Hai câu kết: lời kêu gọi, thức tỉnh nhân tài đất Bắc trước cảnh nước nhà.
Đối tượng trào phúng của bài thơ
Tiếng cười của Tú Xương hướng vào nhiều đối tượng: sĩ tử nhếch nhác, thiếu tư thế của kẻ sĩ; quan trường hách dịch mà kém cỏi; quan sứ và mụ đầm đến trường thi phô trương, làm ô danh nơi cửa Khổng sân Trình; và sâu xa hơn là cả một chế độ thi cử suy tàn dưới ách thực dân. Hai câu kết lại hướng tiếng cười vào chính tầng lớp nho sĩ, trong đó có cả nhà thơ.
Giá trị nội dung
Bài thơ phản ánh thực trạng nhốn nháo, ô hợp của khoa thi Hương năm Đinh Dậu, qua đó cho thấy sự suy đồi của nền giáo dục, thi cử phong kiến và sự nhục nhã của trí thức trong cảnh nước mất. Đằng sau tiếng cười châm biếm là nỗi xót xa, lòng yêu nước và lời thức tỉnh tinh thần dân tộc của nhà thơ.
Giá trị nghệ thuật
- Nghệ thuật đối chỉnh ở hai câu thực và hai câu luận, tạo sự tương phản trào phúng (sĩ tử – quan trường, lọng cắm rợp trời – váy lê quét đất).
- Phép đảo ngữ “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường” nhấn mạnh dáng vẻ thảm hại.
- Từ láy tượng hình, tượng thanh giàu sức gợi; ngôn ngữ giản dị, gần lời nói hằng ngày.
- Kết hợp giọng trào phúng với giọng trữ tình, chuyển từ tiếng cười sang lời tâm sự day dứt.
Sơ đồ tư duy Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu

Lời kết
Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Vịnh khoa thi Hương) là tiếng cười chua chát của Tú Xương trước cảnh trường thi suy tàn dưới thời thực dân. Khi học bài thơ, em cần nắm chắc hoàn cảnh ra đời, bố cục đề – thực – luận – kết, các đối tượng trào phúng và tác dụng của phép đối, phép đảo ngữ.
Xem thêm:
- Soạn bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu (Trần Tế Xương) – Kết nối tri thức
- Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương
- Bài thơ Đất Vị Hoàng (Trần Tế Xương)