Ký sự (cũng viết kí sự) là thể văn trong họ kí chuyên ghi lại người thật, việc thật theo trình tự diễn ra, thường là một chuyến đi, một sự kiện hay một quãng đời mà người viết chứng kiến. Người viết ít bình luận; thái độ toát ra từ chính những chi tiết được chọn để ghi. Tác phẩm tiêu biểu học sinh hay gặp là Thượng kinh ký sự của Lê Hữu Trác.
| Khái niệm | Thể kí ghi chép sự việc có thật theo trình tự thời gian, ít lời bình |
| Thuộc | Loại kí, cùng nhóm với bút kí, phóng sự, hồi kí, nhật kí, tùy bút |
| Gốc từ | Hán Việt 記事: ký (ghi chép) + sự (việc) |
| Dấu hiệu nhận biết | Người thật việc thật, mốc thời gian rõ, sự việc có đầu có cuối |
| Tác phẩm tiêu biểu | Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác), Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng) |

Ký sự: ghi việc, để việc tự lên tiếng
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, ký sự là thể kí ghi lại những diễn biến của đời sống xã hội, không hoặc rất ít xen vào bình luận chủ quan của người viết. Wiktionary tiếng Việt (dựa trên từ điển Hồ Ngọc Đức) giảng theo hai lớp: ghi chép việc, và lối văn ghi chép các việc xảy ra theo trật tự thời gian.
Tên gọi đã nói gần hết. Chữ ký (記) Thiều Chửu giảng là nhớ, ghi chép; sách nào chép lại sự vật đều gọi là kí, như du kí là sách chép những điều nghe thấy trên đường đi. Chữ sự (事) là việc. Ký sự là “ghi việc”. Cùng chữ ký ấy ta có nhật kí, hồi kí, bút kí, du kí, và cả nghề ký giả, người ghi chép tin tức.
Về quy mô, một thiên ký sự thường dài cỡ truyện ngắn đến truyện vừa; nhiều thiên gom lại thành một tập. Trong họ kí, đây là thể gần với truyện nhất, vì sự việc được kể khá trọn vẹn, có mở đầu, diễn biến và kết thúc.
Nhận diện ký sự qua bốn dấu hiệu
Gom lại, đặc điểm của ký sự nằm ở bốn điểm dưới đây; đủ cả bốn thì gần như chắc chắn đó là ký sự.
- Người thật, việc thật. Tên người, địa danh, ngày tháng đều có thật và kiểm chứng được. Người viết không được bịa ra nhân vật hay sự kiện chính.
- Đi theo trình tự thời gian. Sự việc được kể lần lượt: lên đường, đến nơi, gặp ai, làm gì, trở về. Mốc thời gian hiện rõ, đôi khi ghi theo từng ngày.
- Người viết có mặt nhưng ít bình. Tác giả thường là người trong cuộc, có thể xưng “tôi”, nhưng không dừng lại phân trần dài. Thái độ khen chê nằm ở chuyện chọn ghi chi tiết nào, đặt chi tiết nào cạnh chi tiết nào.
- Có giá trị tư liệu. Đọc ký sự, người sau biết được một thời: lễ nghi, phong tục, cảnh sống. Ký sự ra đời gần sự kiện nên thường mang tính thời sự.
Thiếu dấu hiệu thứ nhất, văn bản trượt sang truyện. Thiếu dấu hiệu thứ ba, khi cảm xúc và suy tưởng lấn át sự việc, văn bản nghiêng về bút kí hoặc tùy bút.
Ký sự xưa, ký sự kháng chiến, ký sự truyền hình
Thời trung đại, các nhà nho viết ký sự bằng chữ Hán, ghi những chuyến đi xa hay những biến cố mình chứng kiến. Đến thời kháng chiến, nhiều nhà văn theo bộ đội ra mặt trận và viết ký sự, vừa là văn chương vừa là tin tức gửi về hậu phương; Ký sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng là một ví dụ.
Ngày nay chữ ký sự còn sống mạnh trên báo và truyền hình. Một loạt phim tài liệu theo chân đoàn làm phim qua từng vùng đất, có lời dẫn kể lại hành trình, thường được gọi là ký sự truyền hình. Cách làm vẫn giữ tinh thần cũ: đi tận nơi, ghi theo đường đi, để hình ảnh và con người thật tự kể chuyện.
Thượng kinh ký sự và cảnh phủ chúa qua mắt thầy thuốc
Thượng kinh ký sự (Ký sự lên kinh) là tác phẩm chữ Hán của danh y Lê Hữu Trác, hiệu Hải Thượng Lãn Ông. Ông được triệu từ Hương Sơn ra Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán rồi ghi lại chuyến đi thành tập ký sự, đặt ở cuối bộ sách thuốc Hải Thượng y tông tâm lĩnh. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh từng mở đầu sách Ngữ văn 11 chương trình cũ, bài soạn có ở soạn bài Vào phủ chúa Trịnh chương trình cũ.
Đọc đoạn trích sẽ thấy rõ cả bốn dấu hiệu:
- Trình tự: tác giả được dẫn vào phủ qua cửa sau, đi qua nhiều lần cửa, nhiều dãy hành lang, rồi mới tới chỗ thế tử. Người đọc đi theo bước chân ông, từng lớp một.
- Chi tiết thật: vườn cây, chim kêu, lính canh, mâm vàng chén bạc, căn phòng thế tử tối đến mức phải thắp nến, cậu bé ngồi trên sập vàng. Tác dụng: dựng lại cảnh xa hoa, kín cổng cao tường của phủ chúa mà không cần một câu chê.
- Lời bình kín đáo: ông ít nói thẳng, nhưng việc ghi lại cái tối tăm, ngột ngạt của chỗ thế tử ở đủ cho thấy ông nhìn ra nguyên nhân bệnh tật. Thái độ coi thường danh lợi lộ ra khi ông kể mình từng muốn chữa qua loa để sớm được về, rồi lương tâm thầy thuốc không cho phép.
Ví dụ thứ hai gần hơn với học trò: một bài ghi chuyến về thăm nghĩa trang liệt sĩ của lớp, mở đầu bằng giờ xe lăn bánh, ghi tên xã, tên người cựu chiến binh dẫn đường, kết bằng buổi chiều trở về. Bài ấy là ký sự nếu mọi chi tiết đều thật và người viết để câu chuyện của bác cựu chiến binh tự nói, thay vì chen những đoạn cảm xúc dài.
Ký sự đứng cạnh phóng sự, bút kí, hồi kí
| Thể | Trọng tâm | Mức bình luận, cảm xúc | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Ký sự | Ghi trọn một sự việc, chuyến đi theo thời gian | Ít; thái độ ẩn trong chi tiết | Thượng kinh ký sự |
| Phóng sự | Điều tra, phơi bày một vấn đề xã hội đang nóng | Có, thường kèm nhận định của nhà báo | Tôi kéo xe (Tam Lang) |
| Bút kí | Ghi chép kết hợp suy nghĩ, cảm xúc về người, cảnh | Nhiều, xen nghị luận | Ai đã đặt tên cho dòng sông? |
| Hồi kí | Nhớ lại chuyện đã qua của chính mình | Đậm màu cá nhân | Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng) |
Ranh giới giữa các thể kí không phải lúc nào cũng rạch ròi; nhiều tác phẩm pha trộn. Cách an toàn khi làm bài là chỉ ra thể nổi trội và nêu dấu hiệu. Muốn so với hai thể gần nhất, xem bài thể phóng sự trên báo và trong sách và bài thể hồi kí cùng các trang sách quen. Đề lớp 12 so sánh hai tác phẩm kí có dàn ý và bài mẫu ở bài văn so sánh, đánh giá hai tác phẩm kí.
Luyện nhận diện ký sự: bốn câu có đáp án
Câu 1: Văn bản nào dưới đây là ký sự: (a) truyện kể một cậu bé tưởng tượng bay lên mặt trăng, (b) bài ghi lại ba ngày đoàn thiện nguyện lên một bản vùng cao, có tên bản, tên người và từng mốc thời gian, (c) bài thơ tả mùa thu?
Đáp án: (b). Văn bản ghi việc thật, người thật, theo trình tự ba ngày; (a) là truyện hư cấu, (c) là thơ trữ tình.
Câu 2: Vì sao Thượng kinh ký sự được xếp vào thể ký sự mà không phải truyện?
Đáp án: Vì tác giả kể chuyến đi có thật của chính mình, nhân vật và địa danh đều thật (chúa Trịnh, thế tử, phủ chúa ở Thăng Long), sự việc theo trình tự thời gian, không có cốt truyện hư cấu.
Câu 3: Một bài ghi chuyến dã ngoại của lớp, có giờ giấc và địa danh thật nhưng phần lớn là cảm xúc, suy nghĩ của người viết, có phải ký sự không?
Đáp án: Chưa hẳn. Khi cảm xúc, suy tưởng chiếm phần lớn, bài viết nghiêng về bút kí hoặc tùy bút. Ký sự giữ sự việc làm trục chính, lời bình chỉ điểm xuyết.
Câu 4: Nêu một điểm giống và một điểm khác giữa ký sự và nhật kí.
Đáp án: Giống: cả hai ghi việc có thật theo thời gian. Khác: nhật kí viết cho chính mình, ghi theo từng ngày và đậm chuyện riêng tư; ký sự viết để người khác đọc, chọn một sự việc, một chuyến đi để ghi trọn vẹn.
Ghi nhớ nhanh: thấy người thật, việc thật, đi theo trình tự và người viết nói ít, đó là dấu hiệu của ký sự. Với Thượng kinh ký sự, chi tiết căn phòng thế tử tối đến phải thắp nến là chỗ đáng dẫn nhất, vì một chi tiết ấy nói được cả bệnh của thế tử lẫn cái nhìn của người thầy thuốc.
Ký sự trên trang sách, trên sóng truyền hình
Kí sự hay ký sự, viết thế nào cho đúng?
Cả hai đều được dùng. Sách Ngữ văn hiện hành thường viết “kí” (kí sự, hồi kí, nhật kí), nhiều sách báo khác viết “ký”. Trong một bài, chỉ cần thống nhất một cách viết.
Ký sự là thể loại gì?
Ký sự là một thể nhỏ trong loại kí, thuộc văn xuôi tự sự không hư cấu. Nó đứng cạnh bút kí, phóng sự, hồi kí, nhật kí, tùy bút trong cùng một họ.
Ký sự truyền hình là gì?
Là loạt phim tài liệu ghi lại một hành trình hay một vùng đất theo trình tự, có người dẫn chuyện, dùng hình ảnh và nhân vật thật. Nó mang tinh thần của ký sự trên giấy nhưng kể bằng hình.
Ký sự và phóng sự có giống nhau không?
Giống ở chỗ đều viết về việc thật. Khác ở mục đích: phóng sự đi điều tra một vấn đề xã hội đang nóng để phơi bày, bàn luận; ký sự ghi lại diễn biến một sự việc, một chuyến đi, ít bình luận hơn.