Nguyễn Trãi (1380 – 1442), hiệu Ức Trai, là nhà chính trị, nhà quân sự và nhà thơ lớn thời Lê sơ: người dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi, viết thư dụ hàng tướng Minh, soạn Bình Ngô đại cáo năm 1428 và để lại Quốc âm thi tập, tập thơ Nôm xưa nhất còn giữ được. Bản tóm tắt tác gia Nguyễn Trãi dưới đây đi từ những ý cần nhớ nhất đến từng chặng đời, tác phẩm và các bài học trong sách Ngữ văn.
Tóm tắt tác gia Nguyễn Trãi trong năm ý

| Tên, hiệu | Nguyễn Trãi (阮廌), hiệu Ức Trai; thời Lê được ban quốc tính, có lúc ký Lê Trãi |
| Năm sinh – năm mất | 1380 (năm Canh Thân) – 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (19/9/1442) |
| Quê quán | Quê gốc làng Chi Ngại (vùng Chí Linh, nay thuộc phường Trần Hưng Đạo, TP Hải Phòng); sau dời về làng Nhị Khê (nay thuộc xã Thường Tín, Hà Nội); sinh ở Thăng Long |
| Gia đình | Cha Nguyễn Phi Khanh; mẹ Trần Thị Thái, con gái Tư đồ Trần Nguyên Đán |
| Học vị | Thái học sinh khoa thi năm 1400 (nhà Hồ) |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ mệnh tập, Quốc âm thi tập (254 bài Nôm), Ức Trai thi tập (thơ chữ Hán), Dư địa chí, Chí Linh sơn phú |
| Danh xưng | Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới (UNESCO tham gia kỷ niệm 600 năm sinh, 1980) |
| Trong SGK | Ngữ văn 8 (Nước Đại Việt ta, Bài ca Côn Sơn), Ngữ văn 10 (bài học riêng về tác gia ở cả ba bộ sách) |
- Dòng dõi: cháu ngoại Trần Nguyên Đán, con Nguyễn Phi Khanh; tuổi nhỏ sống ở Thăng Long và Côn Sơn.
- Khoa bảng: đỗ Thái học sinh năm 1400, làm quan nhà Hồ; năm 1407 nhà Minh chiếm nước, cha bị bắt sang Trung Quốc.
- Lam Sơn: theo Lê Lợi ở Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách, soạn thư từ dụ hàng; đầu năm 1428 viết Bình Ngô đại cáo.
- Thơ văn: văn chính luận (Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo), thơ chữ Hán (Ức Trai thi tập), thơ Nôm (Quốc âm thi tập), địa chí (Dư địa chí).
- Kết cục: năm 1442 bị khép tội trong vụ án Lệ Chi Viên, tru di tam tộc; năm 1464 được Lê Thánh Tông minh oan.
Cháu ngoại Trần Nguyên Đán, con Nguyễn Phi Khanh
Ông sinh năm 1380 ở kinh thành Thăng Long, những năm cuối nhà Trần. Họ nội gốc ở làng Chi Ngại thuộc vùng Chí Linh; cha ông, Nguyễn Phi Khanh, đỗ Thái học sinh cuối đời Trần, sau dời về làng Nhị Khê. Mẹ là bà Trần Thị Thái, con gái Tư đồ Trần Nguyên Đán, một tôn thất nhà Trần.
Theo Wikipedia dẫn Trần Huy Liệu, mẹ ông mất khi ông khoảng sáu tuổi. Tuổi thơ ông gắn với ông ngoại ở Thăng Long và Côn Sơn; đến khi Trần Nguyên Đán mất (1390), ông về Nhị Khê sống với cha. Côn Sơn về sau thành nơi ông trở lại ở ẩn, và nay là nơi đặt đền thờ ông.
Thái học sinh năm 1400 và những năm lưu lạc
Năm 1400, Hồ Quý Ly lập nhà Hồ và mở khoa thi đầu tiên. Nguyễn Trãi, hai mươi tuổi, đỗ Thái học sinh, rồi làm Ngự sử đài chánh chưởng. Năm 1407, quân Minh đánh bại nhà Hồ; Nguyễn Phi Khanh bị bắt đưa sang Trung Quốc. Tương truyền khi ấy Nguyễn Trãi theo cha đến ải Nam Quan và được cha dặn quay về lo rửa nhục cho nước; đây là lời truyền, chưa thấy trong hai nguồn độc lập.
Khoảng mười năm sau đó, chính ông gọi là “thập niên phiêu chuyển”, hành tung ông không rõ. Phan Huy Chú chép ông bị giam lỏng ở thành Đông Quan; Trần Huy Liệu, Nguyễn Lương Bích cho rằng ông lánh nạn, có thể từng sang Trung Quốc. Đến nay chưa ngã ngũ.
Lỗi Giang, Bình Ngô sách và những bức thư dụ hàng
Ông tìm về với Lê Lợi ở Lỗi Giang, dâng Bình Ngô sách, bản kế sách đánh quân Minh. Năm cụ thể còn nhiều ý kiến: Hoàng Xuân Hãn và Phan Huy Lê cho là từ hội thề Lũng Nhai (1416), có người nói khoảng 1420 – 1421, sách Đăng khoa khảo lại ghi năm 1426. Trong nghĩa quân, ông làm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ, chuyên lo giấy tờ, thư từ.
Những văn thư ấy gom thành Quân trung từ mệnh tập: thư thay Lê Lợi gửi tướng Minh, lời răn tướng sĩ, viết trong những năm 1423 – 1427. Bản in năm 1868 có 46 văn kiện; năm 1970, Trần Văn Giáp tìm thêm 23 văn kiện. Theo các đoạn chính sử mà Wikipedia trích, ở dinh Bồ Đề bên sông Hồng, Lê Lợi ngồi tầng trên lầu cao nhìn vào thành Đông Quan, Nguyễn Trãi ngồi tầng dưới thảo thư dụ hàng. Bài Thư lại dụ Vương Thông học ở lớp 10 là một văn bản trong tập này. Đầu năm 1427, ông được phong Nhập nội hành khiển Lại bộ Thượng thư kiêm Khu mật viện sự.
Bình Ngô đại cáo, mùa xuân 1428
Đầu năm 1428, khi quân Minh đã rút hết, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo để bố cáo cho thiên hạ biết cuộc kháng chiến đã thắng. Bài cáo mở đầu bằng lời khẳng định một nước có văn hiến, cương vực, phong tục, lịch sử riêng; bản dịch quen thuộc viết:
Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.
Đoạn mở đầu này được học riêng với nhan đề Nước Đại Việt ta ở lớp 8. Cũng nên biết: Đại Việt sử ký toàn thư không ghi rõ tên người viết bài cáo; truyền thống và sách giáo khoa đều coi đây là tác phẩm của Nguyễn Trãi. Năm ấy ông được phong tước Quan phục hầu và ban quốc tính.
Côn Sơn và 254 bài thơ Nôm
Sau chiến thắng, ông còn soạn văn bia Vĩnh Lăng cho lăng Lê Thái Tổ (1433) và dâng sách Dư địa chí (1435). Khoảng cuối 1437 – đầu 1438, ông xin về Côn Sơn, năm 1439 lại được mời ra.
Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ Nôm, chia các mục Vô đề, Thời lệnh môn, Hoa mộc môn, Cầm thú môn, là tập thơ Nôm xưa nhất còn lại; chữ Nôm trong đó còn giữ nhiều cách ghi âm cổ của thế kỷ XV. Chùm Bảo kính cảnh giới nằm trong tập này; bài 43 (quen gọi là Cảnh ngày hè) kết bằng ước nguyện:
Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,
Dân giàu đủ khắp đòi phương.
Thơ chữ Hán của ông tập hợp trong Ức Trai thi tập, hơn một trăm bài (bản sưu tập phổ biến ghi 105 bài), có Côn Sơn ca, Dục Thúy sơn, Bạch Đằng hải khẩu. Phần lớn thơ văn ông còn đến nay là nhờ Dương Bá Cung sưu tập, khắc in trong Ức Trai di tập năm 1868, hơn bốn trăm năm sau khi ông mất. Riêng Lam Sơn thực lục thường được gán cho ông, nhưng tác giả thật chưa xác định. Đọc thêm các bài thơ trong tuyển tập tác phẩm Nguyễn Trãi; tư tưởng nhân nghĩa và chất trữ tình trong thơ ông được phân tích riêng ở bài phong cách sáng tác của Nguyễn Trãi.
Án Lệ Chi Viên năm 1442 và lời minh oan năm 1464
Năm 1442, ông làm giám khảo khoa thi Hội, khoa lấy đỗ Trạng nguyên Nguyễn Trực. Tháng 8 năm ấy (âm lịch), vua Lê Thái Tông ghé Côn Sơn thăm ông, trên đường về đột ngột mất ở vườn vải Lệ Chi Viên. Nguyễn Trãi và người vợ lẽ Nguyễn Thị Lộ bị khép tội giết vua; ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất, ông bị xử tru di tam tộc. Nhiều trước tác của ông thất lạc từ đó.
Hai mươi hai năm sau, năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu rửa oan, truy tặng tước Tán Trù bá và cho tìm con cháu ông bổ dụng; năm 1467, nhà vua cho sưu tầm di cảo thơ văn. Trong bài thơ Quân minh thần lương, Lê Thánh Tông viết câu “Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo” và tự chú thích bên dưới về công lao của Nguyễn Trãi thời theo Thái Tổ khởi nghiệp. Câu này thường được dịch là lòng Ức Trai sáng như sao Khuê, nhưng theo GS Bùi Duy Tân (Wikipedia dẫn), “Khuê tảo” chỉ vẻ đẹp văn chương, nên dịch sát là lòng Ức Trai rạng tỏa văn chương, như bản dịch nghĩa trên Wikisource.
Nguyễn Trãi trong chương trình Ngữ văn 8 và Ngữ văn 10
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Nước Đại Việt ta | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1, Bài 5 | Soạn bài |
| Bài ca Côn Sơn | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 1, Bài 3 (đọc kết nối chủ điểm) | Soạn bài · Phân tích |
| Bình Ngô đại cáo / Đại cáo bình Ngô | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức (tập 2, Bài 6), Chân trời sáng tạo (tập 2, Bài 7), Cánh diều (tập 2, Bài 5) | Soạn bài (KNTT, CTST) · Soạn bài (Cánh diều) · Tóm tắt · Phân tích · Mở bài · Kết bài |
| Bảo kính cảnh giới (bài 43) / Gương báu khuyên răn | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, Chân trời sáng tạo; Cánh diều (đọc mở rộng) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm · Tóm tắt · Phân tích Cảnh ngày hè |
| Dục Thúy sơn | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức; Chân trời sáng tạo (đọc mở rộng) | Soạn bài · Tác giả, tác phẩm |
| Thư lại dụ Vương Thông / Thư dụ Vương Thông lần nữa | Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo; Cánh diều (tự đánh giá) | Tác giả, tác phẩm · Phân tích |
| Ngôn chí, Bạch Đằng hải khẩu | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức (đọc mở rộng) | Ngôn chí · Bạch Đằng hải khẩu |
| Bài học về tác gia | Ngữ văn 10, cả ba bộ sách | Tác gia Nguyễn Trãi (KNTT) · Nhà ngoại giao, nhà hiền triết, nhà thơ (CTST) · Cuộc đời và sự nghiệp (Cánh diều) |
Khi ôn, nên đặt ông cạnh hai bậc hậu sinh: Nguyễn Bỉnh Khiêm, cũng người xứ Đông và cũng chọn lối về ở ẩn, và Nguyễn Du, người đưa thơ Nôm lên đỉnh cao gần bốn thế kỷ sau Quốc âm thi tập.
“Danh nhân văn hóa thế giới” nên hiểu thế nào?
Năm 1980, nhân 600 năm sinh Nguyễn Trãi, UNESCO cùng Việt Nam tổ chức kỷ niệm; từ đó báo chí và các văn bản chính thức gọi ông là Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Theo giải thích của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam (báo Tiền Phong dẫn, khi nói về trường hợp Nguyễn Du), UNESCO không có danh hiệu chính thức tên như vậy, mà chỉ thông qua nghị quyết tham gia kỷ niệm năm sinh, năm mất của các nhân vật. Cũng nên phân biệt: danh xưng Đại thi hào dân tộc gắn với Nguyễn Du, dù đôi khi bị gán cho Nguyễn Trãi.
Ngày giỗ ông, 16 tháng 8 âm lịch, hằng năm vẫn có lễ tưởng niệm ở Côn Sơn. Từ ngày 12/7/2025, Côn Sơn thuộc quần thể Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc được UNESCO ghi danh Di sản văn hóa thế giới. Chế Lan Viên từng mở một khổ thơ bằng câu: Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc. Hai việc ấy, ở Nguyễn Trãi, chưa bao giờ tách rời.