Thư lại dụ Vương Thông (Tái dụ Vương Thông thư) là bức thư Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi gửi tướng giặc Minh Vương Thông, trích từ Quân trung từ mệnh tập. Văn bản được học ở Bài 7 “Anh hùng và nghệ sĩ”, sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo (tập 2); sách Ngữ văn 10 Cánh diều cũng đưa bức thư này vào phần Tự đánh giá của bài Thơ văn Nguyễn Trãi với nhan đề “Thư dụ Vương Thông lần nữa”. Bài viết tổng hợp kiến thức về tác giả, tác phẩm: xuất xứ, hoàn cảnh, thể loại, bố cục, luận điểm, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Thư lại dụ Vương Thông
Nguyên tác viết bằng chữ Hán. Văn bản trong sách Chân trời sáng tạo dùng bản dịch của Phan Duy Tiếp, Nguyễn Văn Nguyên hiệu đính (Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, quyển I, NXB Văn học, 1999). Bản dịch còn được bảo hộ nên dưới đây chỉ tóm lược lập luận và trích một vài câu ngắn; em nên đọc toàn văn trong SGK. Bản dịch dùng trong sách Cánh diều có chỗ khác về câu chữ nhưng nội dung là một.

Mở đầu, thư nêu một nguyên lí: “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi.” Được thời có thế thì yếu hóa mạnh, mất thời thất thế thì mạnh hóa yếu; tướng Minh không hiểu thời thế, lại nói lời dối trá thì không đáng bàn việc binh.
Tiếp đó, tác giả vạch trần việc quân Minh bề ngoài xin hòa mà bên trong đào hào, đắp lũy chờ viện binh; dẫn gương nhà Tần tàn bạo mà mất nước để khẳng định nhà Minh hà khắc tất phải chuốc bại vong, đó là “mệnh trời”. Nhà Minh lúc ấy phía bắc lo giặc Nguyên, phía nam có loạn ở Tầm Châu, tự giữ còn chưa xong. Tác giả cũng bác bỏ những lời lẽ khinh miệt của tướng Minh bằng các tấm gương lịch sử Trung Hoa.
Phần thứ ba phân tích thế cùng của quân Minh trong thành: sức hết kế cùng, thiếu lương, không viện binh, lòng người trong thành oán giận, rồi chỉ ra sáu điều khiến quân Minh tất phải thua. Cuối thư, tác giả đưa ra lựa chọn: nếu biết thời thế, chém đầu Phương Chính, Mã Kỳ đem nộp thì hai bên hòa hảo, quân Minh được sửa đường, sắm thuyền cho về nước yên ổn; nếu không thì ra đồng bằng quyết một trận, chứ đừng co cụm trong thành mà chịu nhục.
Thông tin tác giả Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380–1442), hiệu Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, vùng Chí Linh (Hải Dương cũ), lớn lên ở làng Nhị Khê (Thường Tín, Hà Nội). Cha là Nguyễn Phi Khanh, mẹ là Trần Thị Thái – con quan Tư đồ Trần Nguyên Đán. Năm 1400, ông đỗ Thái học sinh, làm quan dưới triều Hồ. Giặc Minh xâm lược, ông tìm đến Lam Sơn theo Lê Lợi, trở thành mưu sĩ hàng đầu của cuộc khởi nghĩa, soạn thảo nhiều văn thư quân sự, ngoại giao.
Sau chiến thắng, ông viết Bình Ngô đại cáo (1428), tham gia xây dựng triều Lê sơ nhưng sớm bị gièm pha, có thời gian lui về Côn Sơn. Năm 1442, ông bị khép vào vụ án Lệ Chi viên, chịu án tru di tam tộc; đến năm 1464, vua Lê Thánh Tông mới minh oan. Năm 1980, nhân kỉ niệm 600 năm năm sinh, Nguyễn Trãi được ghi tên vào danh sách những danh nhân thế giới được UNESCO kỉ niệm năm sinh.
Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Trãi đồ sộ, gồm cả chữ Hán và chữ Nôm: văn chính luận có Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo; thơ chữ Hán có Ức Trai thi tập; thơ Nôm có Quốc âm thi tập; ngoài ra còn Dư địa chí… Tư tưởng xuyên suốt là nhân nghĩa, yêu nước, thương dân. Ở văn chính luận, ông là cây bút bậc thầy: lập luận chặt chẽ, lời lẽ khi cứng rắn, khi mềm mỏng, luôn đánh trúng tâm lí đối phương. Em có thể đọc thêm bài giới thiệu tác giả Nguyễn Trãi: cuộc đời và sự nghiệp.
Thông tin tác phẩm Thư lại dụ Vương Thông
Xuất xứ: Thư lại dụ Vương Thông in trong tập nào?
Bức thư thuộc Quân trung từ mệnh tập – tập hợp những thư từ, văn kiện Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi trong thời kì kháng chiến chống quân Minh, phần lớn gửi cho các tướng lĩnh nhà Minh. Nhan đề chữ Hán là Tái dụ Vương Thông thư: “tái” là lại, lần nữa; “dụ” là khuyên bảo, dụ hàng. Như vậy đây là bức thư dụ hàng Vương Thông lần thứ hai, vì thế sách Cánh diều dịch nhan đề là “Thư dụ Vương Thông lần nữa”.
Hoàn cảnh sáng tác
Cuối năm 1426, sau thất bại nặng ở Tốt Động – Chúc Động, tổng binh Vương Thông cùng quân Minh rút vào cố thủ thành Đông Quan (Hà Nội ngày nay) và bị nghĩa quân Lam Sơn vây chặt. Vương Thông bề ngoài xin giảng hòa nhưng bên trong vẫn đắp lũy, chờ viện binh. Bức thư được viết vào khoảng đầu năm 1427, trong lúc vây thành, nhằm vạch rõ thế thua của địch và dụ chúng ra hàng. Cuối năm ấy, viện binh Liễu Thăng bị tiêu diệt, Vương Thông phải giảng hòa rồi rút quân về nước.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: thư (văn bản nghị luận trung đại, viết bằng chữ Hán).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
- Người viết – người nhận: người viết xưng “tôi” (lời Lê Lợi, do Nguyễn Trãi chấp bút), người nhận là “quan Tổng binh cùng các vị đại nhân” – Vương Thông và các tướng Minh trong thành.
Bố cục: Thư lại dụ Vương Thông có mấy phần?
Căn cứ vào hệ thống câu hỏi trong sách Chân trời sáng tạo, văn bản có thể chia làm 4 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Sao đáng để cùng bàn việc binh được?”): nêu nguyên lí người dùng binh giỏi phải biết thời thế; chê tướng Minh không hiểu thời thế.
- Phần 2 (từ “Trước đây bề ngoài…” đến lời bác bỏ luận điệu của tướng Minh): vạch trần sự gian trá; lấy chuyện xưa và “mệnh trời” chứng minh nhà Minh tất bại; phân tích thế khó của nhà Minh.
- Phần 3 (từ “Nay sức hết kế cùng…” đến điều phải thua thứ sáu): thế cùng của quân trong thành Đông Quan và sáu điều tất phải thua.
- Phần 4 (còn lại): khuyên hàng, hứa hẹn hòa hảo, cho về nước; nếu không thì thách đánh một trận.
Luận đề, luận điểm và cách lập luận
- Luận đề: quân Minh không hiểu thời thế, tất yếu thất bại, nên ra hàng là con đường tốt nhất.
- Luận điểm 1: người dùng binh giỏi phải biết thời thế.
- Luận điểm 2: nhà Minh gian trá, tàn bạo, trái mệnh trời, lại đang rối ren trong nước.
- Luận điểm 3: quân Minh trong thành đang ở thế cùng, có sáu điều tất bại.
- Luận điểm 4: giải pháp hợp lí cho cả hai bên – ra hàng, về nước; nếu không thì quyết chiến.
Lập luận đi từ nguyên lí chung đến thực tế cụ thể rồi rút ra giải pháp, như một chuỗi suy luận khép kín khiến đối phương khó chối cãi.
Giá trị nội dung
- Phân tích sắc bén thời và thế của hai bên, khẳng định thất bại tất yếu của quân Minh và thế chủ động của nghĩa quân Lam Sơn.
- Thể hiện ý chí quyết thắng, lòng tự tôn dân tộc, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân nghĩa, tinh thần yêu chuộng hòa bình, muốn tránh đổ máu cho cả hai bên.
- Minh chứng cho chiến lược đánh vào lòng người (mưu phạt tâm công) – dùng ngòi bút hỗ trợ cuộc chiến trên chiến trường.
Giá trị nghệ thuật
- Lập luận chặt chẽ, luận điểm rõ, lí lẽ xác đáng, dẫn chứng phong phú từ lịch sử Trung Hoa – thứ lịch sử chính đối phương phải thừa nhận.
- Nghệ thuật liệt kê, lặp cấu trúc “Đó là điều phải thua thứ…” tạo nhịp văn dồn dập, đanh thép.
- Giọng văn linh hoạt: lúc mỉa mai, khinh bỉ, lúc cứng rắn đe dọa, lúc mềm mỏng hứa hẹn; lời lẽ đúng mực của một văn kiện ngoại giao.
Sơ đồ tư duy Thư lại dụ Vương Thông
Sơ đồ tóm lược sáu nội dung chính của bài học.

Lời kết
Thư lại dụ Vương Thông cho thấy vì sao văn chính luận của Nguyễn Trãi được xem là thứ vũ khí sắc bén không kém gươm giáo: mỗi lí lẽ đều bám chắc vào thời thế, mỗi lời lẽ đều nhắm đúng tâm lí kẻ thù. Nắm chắc hoàn cảnh ra đời, bố cục và hệ thống luận điểm, em sẽ dễ dàng soạn bài và viết bài phân tích văn bản nghị luận này.
Xem thêm: