Chu di cửu tộc là cách gõ nhầm của tru di cửu tộc (誅夷九族), tên một hình phạt nặng nhất thời phong kiến: người mắc tội lớn như mưu phản bị xử tử, và họ hàng thân thuộc chia làm chín họ cũng bị giết theo. Ai tìm “tru di cửu tộc là gì” hay “chu di hay tru di” thì đáp án là một: chữ đúng mở đầu bằng tr.
| Nghĩa ngắn | Hình phạt giết người phạm tội cùng chín họ thân thuộc của người ấy |
| Cách viết đúng | Tru di cửu tộc; “chu di” là lỗi lẫn tr/ch |
| Chữ Hán | 誅 tru (giết kẻ có tội) · 夷 di (giết sạch) · 九 cửu (chín) · 族 tộc (họ, dòng dõi) |
| Phạm vi dùng | Sử học, truyện lịch sử, phim cổ trang; đời thường đôi khi nói đùa cho cường điệu |

Chu di cửu tộc hay tru di cửu tộc?
Ở nhiều vùng phía Bắc, tr và ch đọc gần như nhau, nên tai nghe “chu di” rồi tay gõ theo. Nhưng không có chữ Hán nào đọc là “chu” mang nghĩa giết ở đây. Chữ gốc là tru (誅), cùng họ với tru diệt, tru lục, khẩu tru bút phạt. Mẹo nhớ: đã dính đến chuyện trừng trị thì viết tr, như trừng, trị, tru.
Mục từ tru di trong từ điển tiếng Việt được ghi là từ cũ, chỉ việc giết người bị án tử hình và cả gia đình người ấy. Vì là từ của sử sách, ngày nay ta gần như chỉ gặp nó khi đọc lịch sử, xem phim cổ trang, hoặc trong câu nói cường điệu kiểu “lộ đề kiểm tra thì cả lớp bị tru di cửu tộc mất”.
Bốn chữ Hán ghép thành một bản án
Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu giảng tru là kể rõ tội rồi giết, còn di là giết hết. Chữ di vốn có nhiều nghĩa khác (bằng phẳng, yên ổn, chỉ các tộc người phía đông Trung Hoa xưa), chỉ khi đi với tru thì mới mang nghĩa diệt sạch. Cửu là chín, tộc là dòng họ. Ghép lại: giết sạch chín họ. Đây là một từ Hán Việt điển hình, mỗi tiếng mang một phần nghĩa; muốn ôn lại kiểu từ này có thể đọc bài cách nhận ra một từ Hán Việt qua từng yếu tố.
Vậy chín họ gồm những ai? Người xưa không thống nhất. Có hai cách hiểu được nhắc nhiều:
- Tính theo ba bên: bốn nhóm thuộc họ cha (cha mẹ, anh chị em, con cái; cô ruột; con của chị em gái; cháu ngoại), ba nhóm thuộc họ mẹ (ông ngoại, bà ngoại, dì ruột) và hai nhóm thuộc họ vợ (cha vợ, mẹ vợ). Cách này hay được gắn với chế độ thân tộc thời Chu.
- Tính theo chín đời: từ bản thân ngược lên bốn đời (cha, ông, cụ, kỵ) và xuôi xuống bốn đời (con, cháu, chắt, chút). Lối tính này dựa hẳn vào dòng họ nội.
Trên thực tế, mỗi triều đại lại quy định phạm vi xử khác nhau, có lúc tha trẻ nhỏ, có lúc chỉ xử đến ba họ. Câu hỏi “cửu tộc gồm những ai” vì thế nên trả lời bằng chữ “tùy thời”, chứ không có danh sách cố định.
Từ tam tộc đến cửu tộc: các mức của hình phạt
| Cách gọi | Phạm vi | Ghi chú |
|---|---|---|
| Tru di tam tộc | Ba họ; có thuyết hiểu là cha mẹ, anh em, vợ con | Vụ án Lệ Chi Viên thường được xếp vào mức này |
| Tru di cửu tộc | Chín họ, theo một trong hai cách tính ở trên | Mức nặng, chủ yếu cho tội phản nghịch |
| Tru di thập tộc | Chín họ cộng thêm học trò, bạn bè làm “họ thứ mười” | Gắn với một vụ án duy nhất đời Minh |
| Diệt tộc, tộc tru | Cách gọi chung việc giết cả dòng họ | Đồng nghĩa, ít dùng hơn |
Hình phạt kiểu này có từ rất sớm ở Trung Hoa, nặng lên dưới thời Tần, rồi được các triều sau kế thừa với mức độ khác nhau. Mãi đến năm 1905, những năm cuối nhà Thanh, Trung Quốc mới bỏ hẳn hình phạt này khỏi luật. Các nước chịu ảnh hưởng luật pháp Trung Hoa như Triều Tiên và Việt Nam cũng từng áp dụng. Sử sách đời sau phần nhiều coi đây là biểu hiện của lối cai trị chuyên chế: bắt người vô tội gánh tội thay chỉ vì cùng huyết thống.
Đi cùng loại hình phạt này thường là những tội danh như mưu phản, cướp ngôi; nghĩa của những chữ ấy có ở bài chữ soán trong sử cũ và nghĩa bóng hôm nay.
Cùng tầng nặng nhất của luật xưa là hình phạt lăng trì, còn gọi là tùng xẻo, dành cho tội mưu phản.
Những vụ án người đọc sử hay nhắc
Vụ được dẫn nhiều nhất là chuyện Phương Hiếu Nhụ đời Minh. Khi Yên vương Chu Đệ giành ngôi của cháu, ông không chịu thảo chiếu lên ngôi cho vua mới. Bị dọa giết chín họ, ông đáp rằng mười họ cũng chẳng sao. Theo lời kể lưu truyền, học trò, bạn bè của ông bị gom thành “họ thứ mười”. Từ đó mới có cách nói “tru di thập tộc”.
Nguyễn Du cũng nhắc đến chuyện này trong bài Kỳ lân mộ, với câu:
Bạo nộ nhất sính di thập tộc
Tạm hiểu: một cơn giận dữ trút ra, giết cả mười họ. Chữ di ở đây chính là chữ di trong tru di.
Trong sử Việt, vụ án Lệ Chi Viên năm 1442 là nỗi đau lớn nhất gắn với hình phạt này. Vua Lê Thái Tông đột ngột qua đời sau khi ghé Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi; triều đình đổ tội cho Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi, rồi xử cả hai cùng nhiều người trong họ. Khoảng hai mươi năm sau, vua Lê Thánh Tông mới minh oan cho ông. Đọc thêm ở bài tiểu sử và sự nghiệp của Ức Trai để thấy vì sao vụ án ấy được xem là nỗi oan nghìn năm.
Cửu tộc ở trường, trên phim và trong sử sách
Tru di cửu tộc là gì?
Là hình phạt thời phong kiến xử tử người phạm tội nặng cùng toàn bộ chín họ thân thuộc của người đó. “Chu di cửu tộc” chỉ là cách viết sai của cụm từ này.
Cửu tộc gồm những ai?
Có hai cách hiểu chính: chín nhóm người thuộc họ cha, họ mẹ và họ vợ, hoặc chín đời tính từ kỵ đến chút. Phạm vi thật sự bị xử còn tùy luật từng triều.
Tru di tam tộc là gì, khác cửu tộc chỗ nào?
Tam tộc là ba họ, phạm vi hẹp hơn cửu tộc. Cách hiểu ba họ cũng không thống nhất, có thuyết là cha mẹ, anh em, vợ con; có thuyết là cha, con, cháu.
Viết “chu di” có được chấp nhận không?
Không. Trong bài kiểm tra hay văn bản nghiêm túc, viết “chu di cửu tộc” sẽ bị tính lỗi chính tả. Chữ đúng là tru, nghĩa là giết kẻ có tội.