Kết bài Bình Ngô đại cáo khép lại bài nghị luận về áng cáo Nguyễn Trãi viết thay lời Lê Lợi năm 1428, văn bản học ở lớp 10 trong sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo và Ngữ văn 10 Cánh diều (Cánh diều ghi tên Đại cáo bình Ngô). Kết bài hay cần đánh giá được ý nghĩa lịch sử, chiều sâu nhân nghĩa cùng tài lập luận của bài cáo, rồi để lại suy nghĩ riêng. Bài viết gồm 13 mẫu hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, liên hệ, mở rộng và theo từng phần của tác phẩm.
Đọc nét riêng trong ngòi bút Nguyễn Trãi sẽ giúp em liên hệ văn bản này với những sáng tác khác cùng tác giả.

Cách viết kết bài Bình Ngô đại cáo
- Nhắc lại tên Bình Ngô đại cáo và Nguyễn Trãi, gói vấn đề vừa phân tích trong một câu; không kể lại diễn biến các trận đánh.
- Đánh giá ở hai mặt: nội dung (nhân nghĩa, độc lập, tố cáo tội ác, ngợi ca chiến thắng) và nghệ thuật (thể cáo, văn biền ngẫu, lập luận chặt, chính luận hòa với cảm xúc).
- Đề chỉ hỏi một phần thì khép đúng phần đó trước, sau mới mở rộng sang ý nghĩa của cả bài cáo.
- Phần liên hệ nên gắn với điều cụ thể: niềm tự hào dân tộc, trách nhiệm giữ gìn hòa bình, cách đối xử nhân đạo với con người.
- Kết bài dài khoảng 4–6 câu; khi dùng những đánh giá quen thuộc về tác phẩm, hãy nói rõ đó là cách hậu thế ca ngợi bài cáo.
Kết bài tổng hợp Bình Ngô đại cáo
Mẫu 1 – ngắn gọn
Bình Ngô đại cáo đã khép lại hai mươi năm đô hộ bằng lời tuyên bố đanh thép rằng non sông Đại Việt đã trở về tay người Việt. Với lí lẽ chặt chẽ và giọng văn hào sảng, Nguyễn Trãi để lại cho dân tộc một áng văn mà mỗi lần đọc lại, ta vẫn nghe thấy khí thế của buổi đầu thái bình.
Mẫu 2 – tổng kết giá trị nội dung và nghệ thuật
Tóm lại, Bình Ngô đại cáo là nơi hội tụ lí tưởng nhân nghĩa, khát vọng tự chủ và tài chính luận của Nguyễn Trãi. Về nội dung, bài cáo nêu cao lẽ phải yên dân, trừ bạo, kể tội kẻ xâm lược, ngợi ca cuộc kháng chiến của nghĩa quân và tuyên bố một thời kì hòa bình mới. Về nghệ thuật, tác giả vận dụng nhuần nhuyễn thể cáo với những câu biền ngẫu cân đối, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực, đồng thời thổi vào đó hình ảnh tráng lệ và cảm xúc mãnh liệt. Nhờ sự hòa hợp giữa lí trí và tình cảm, một văn bản hành chính đã trở thành tác phẩm văn chương đích thực.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí tác phẩm và tác giả
Gần sáu thế kỉ đã qua, Bình Ngô đại cáo vẫn đứng ở hàng đầu trong di sản văn chương thời trung đại của dân tộc. Hậu thế gọi bài cáo là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai” của dân tộc, ca ngợi đó là áng “thiên cổ hùng văn”, và những danh xưng ấy hoàn toàn xứng đáng. Cùng với Quốc âm thi tập, Ức Trai thi tập, Quân trung từ mệnh tập, tác phẩm khẳng định Nguyễn Trãi là cây bút chính luận bậc thầy và là nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XV. Tên tuổi tác giả và bài cáo vì thế đã gắn chặt với lịch sử giữ nước của người Việt.
Mẫu 4 – trở lại lời kết của bài cáo
Bài cáo khép lại bằng hai câu thật ngắn: “Xa gần bá cáo, Ai nấy đều hay”. Sau những trang văn đau đớn, căm giận rồi sục sôi khí thế, lời tuyên bố cuối cùng của Bình Ngô đại cáo bình thản mà đĩnh đạc, như tiếng nói của người chiến thắng đã nắm chắc vận mệnh đất nước. Nguyễn Trãi muốn mọi người, dù ở gần hay ở xa, đều biết rằng chiến tranh đã chấm dứt và Đại Việt bước vào thời thái bình. Gần sáu trăm năm sau, lời báo tin ấy vẫn vang lên trong mỗi giờ học văn, nhắc chúng ta nhớ cái giá của độc lập.
Kết bài Bình Ngô đại cáo liên hệ, mở rộng
Mẫu 5 – liên hệ bản thân
Khép lại trang sách Bình Ngô đại cáo, em hiểu rằng nền độc lập hôm nay được đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ, trong đó có những người lính Lam Sơn từng chịu đói ở Linh Sơn, từng lấy ít địch nhiều. Nguyễn Trãi đã dùng ngòi bút lưu giữ khoảnh khắc dân tộc giành lại non sông, để người đời sau biết tự hào và biết trân trọng. Là học sinh, em không cầm gươm ra trận, nhưng có thể sống xứng đáng với di sản ấy bằng việc học tập chăm chỉ, hiểu lịch sử, yêu tiếng Việt và sẵn sàng góp sức nhỏ bé của mình cho đất nước.
Mẫu 6 – liên hệ thời đại: tư tưởng lấy dân làm gốc
Điều làm Bình Ngô đại cáo còn mới mẻ đến hôm nay là tư tưởng đặt người dân ở vị trí trung tâm. Với Nguyễn Trãi, việc nhân nghĩa trước hết phải hướng tới sự yên ổn của dân, và chiến thắng trọn vẹn nhất là chiến thắng cho muôn dân được nghỉ sức. Sáu thế kỉ sau, tư tưởng ấy vẫn là thước đo của mọi chính sách: đất nước chỉ vững mạnh khi đời sống nhân dân được chăm lo. Đọc lại bài cáo trong thời bình, ta càng thấm thía rằng giữ gìn hòa bình, dựng xây đất nước cũng là cách tiếp nối lí tưởng mà Nguyễn Trãi đã gửi gắm.
Mẫu 7 – mở rộng sang các văn bản tuyên ngôn
Đặt trong dòng chảy văn học yêu nước, Bình Ngô đại cáo là mắt xích quan trọng nối Nam quốc sơn hà với Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Nếu bài thơ thời Lý khẳng định chủ quyền ngắn gọn như một lời thề, thì Nguyễn Trãi đã chứng minh chủ quyền ấy bằng văn hiến, lịch sử và chiến công; đến Hồ Chí Minh, độc lập còn được đặt trong quyền con người và quyền của các dân tộc. Mỗi văn bản là tiếng nói của một thời đại nhưng chung một khát vọng: được sống tự do trên chính đất nước mình. Bài cáo của Nguyễn Trãi vì thế sẽ còn được đọc và được dạy cho đến mai sau.
Mẫu 8 – từ sức thuyết phục của văn chính luận
Văn chính luận thường bị nghĩ là khô khan, nặng lí lẽ, và Bình Ngô đại cáo chứng minh điều ngược lại. Nguyễn Trãi giữ đúng khuôn phép của thể cáo, câu văn sóng đôi từng vế, luận điểm nối nhau chặt chẽ, nhưng trong khuôn ấy vẫn có nước mắt thương dân, có cơn giận trước tội ác, có tiếng reo của ngày thắng trận. Chính cảm xúc chân thật của người trong cuộc đã làm lí lẽ có sức lay động. Từ bài cáo, người đọc học được rằng văn bản thuyết phục nhất là văn bản nói bằng cả trí tuệ lẫn trái tim.
Kết bài Bình Ngô đại cáo theo từng dạng đề
Mẫu 9 – đề phân tích phần mở đầu
Chỉ trong phần mở đầu ngắn gọn, Nguyễn Trãi đã đặt nền móng cho toàn bộ Bình Ngô đại cáo. Tư tưởng nhân nghĩa gắn với yên dân, trừ bạo cho thấy cuộc kháng chiến chống Minh là cuộc chiến vì con người; còn những câu khẳng định văn hiến, cương vực, phong tục, lịch sử riêng đã nâng ý thức độc lập lên một tầm cao mới. Lời văn sóng đôi, giọng điệu đĩnh đạc, chứng cứ lấy từ chính lịch sử làm cho luận đề trở nên không thể bác bỏ. Có thể nói, đây là cái nền lí luận vững chắc để những phần sau của bài cáo triển khai.
Mẫu 10 – đề phân tích bản cáo trạng
Đoạn cáo trạng trong Bình Ngô đại cáo là một trong những trang viết đau đớn nhất của văn học trung đại. Bằng hình ảnh vừa bao quát vừa cụ thể, những câu văn dài dồn dập và những tiếng than xót xa, Nguyễn Trãi đã phơi bày tội ác của giặc Minh trước toàn dân và trước cả thiên hạ. Đoạn văn cho thấy lòng thương dân vô hạn của tác giả, đồng thời biến nỗi căm hờn thành lí do chính đáng cho cuộc đứng lên của nghĩa quân. Đọc nó, ta hiểu vì sao kẻ thù dù mạnh vẫn phải thất bại trước một dân tộc có chính nghĩa.
Mẫu 11 – đề phân tích quá trình khởi nghĩa và hình tượng Lê Lợi
Qua phần tái hiện cuộc khởi nghĩa, Bình Ngô đại cáo trở thành khúc tráng ca rực rỡ về nghĩa quân. Nguyễn Trãi không giấu những ngày gian khổ: thiếu người tài, thiếu lương, thiếu quân, và chính vì thế mà chiến thắng về sau càng chói lọi. Người chủ tướng Lê Lợi được khắc họa vừa bình dị vừa lớn lao, một vị thủ lĩnh biết lo cho dân, biết trọng người hiền và biết gắn kết tướng sĩ như cha con một nhà. Những câu văn dài, nhịp nhanh, hình ảnh kì vĩ đã làm sống dậy khí thế của nghĩa quân. Phần văn này là minh chứng rõ nhất cho chân lí nhân nghĩa sẽ thắng hung tàn.
Mẫu 12 – đề phân tích lời tuyên bố kết thúc chiến tranh
Phần kết của Bình Ngô đại cáo là khúc nhạc vui sau những trang văn hùng tráng. Những câu như “Càn khôn bĩ rồi lại thái, Nhật nguyệt hối rồi lại minh” cho thấy niềm tin của Nguyễn Trãi vào quy luật vận động của trời đất: sau đêm tối sẽ là ánh sáng, sau loạn lạc sẽ là thái bình. Giọng văn trang nghiêm mà phấn khởi, vừa tuyên bố chiến thắng, vừa nhắc đến sự phù trợ của trời đất tổ tông. Khép bài cáo bằng lời ấy, tác giả đã trao cho dân tộc một niềm tin vững chắc vào tương lai của Đại Việt.
Kết bài Bình Ngô đại cáo nâng cao
Mẫu 13 – cho bài học sinh giỏi
Bình Ngô đại cáo ra đời khi lịch sử và văn chương còn chưa tách rời nhau, nên bài cáo mang trong mình cả tầm vóc của một văn kiện quốc gia lẫn vẻ đẹp của một tác phẩm nghệ thuật. Nguyễn Trãi đã đưa tư tưởng nhân nghĩa từ sách vở Nho gia vào đời sống, biến nó thành lí tưởng chiến đấu và cả cách ứng xử với kẻ bại trận. Ông chứng minh nền độc lập bằng văn hiến và lịch sử, kể tội kẻ thù bằng nước mắt, kể chiến công bằng âm hưởng sử thi, rồi khép lại bằng niềm tin vào lẽ thịnh suy. Sức thuyết phục của bài cáo không đến từ quyền lực của người ban bố mà từ lẽ phải và tình người. Đó là lí do sau gần sáu thế kỉ, mỗi thế hệ đọc lại vẫn tìm thấy ở đây một bài học về cách làm người và cách giữ nước.
Nên chọn mẫu kết bài Bình Ngô đại cáo nào?
Các mẫu trên đều khẳng định giá trị của Bình Ngô đại cáo và tầm vóc của Nguyễn Trãi, nhưng đi theo những hướng khác nhau: tổng kết, liên hệ, mở rộng hay trở về lời tuyên bố cuối bài. Khi làm bài, em nên chọn mẫu khớp với phạm vi đề, phối hợp với mở bài đã viết để bài văn có đầu có cuối, rồi diễn đạt lại bằng giọng của mình. Với đề học sinh giỏi, mẫu 13 là gợi ý phù hợp.
Ngoài bài trong sách, tác giả còn nhiều sáng tác đáng đọc được giới thiệu trong tuyển tập tác phẩm Nguyễn Trãi.
Xem thêm:
- Soạn Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) – Chân trời sáng tạo và Kết nối tri thức 10
- Đại cáo bình Ngô: tác giả, tác phẩm, bố cục, giá trị
- Tóm tắt Bình Ngô đại cáo ngắn gọn, đầy đủ
- Phân tích Đại cáo bình Ngô – bài văn học sinh giỏi
- Tác giả Nguyễn Trãi: tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm chính
- Mở bài Bình Ngô đại cáo hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, theo đề