Mở bài Bình Ngô đại cáo dẫn vào bài nghị luận về áng cáo chữ Hán Nguyễn Trãi viết năm 1428, văn bản học ở lớp 10 trong sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo và Ngữ văn 10 Cánh diều (Cánh diều ghi tên Đại cáo bình Ngô). Mở bài tốt phải giới thiệu đúng tác giả, hoàn cảnh ra đời và nêu trúng vấn đề của đề. Dưới đây là 14 mẫu viết hoàn chỉnh: trực tiếp, gián tiếp, theo dạng đề và nâng cao.
Bài phong cách sáng tác của Nguyễn Trãi lý giải vì sao trang viết của tác giả dễ nhận ra giữa nhiều cây bút cùng thời.

Cách viết mở bài Bình Ngô đại cáo
- Gọi đúng tên tác phẩm (Bình Ngô đại cáo hoặc Đại cáo bình Ngô, theo sách em học) và tác giả Nguyễn Trãi; nhắc gọn rằng bài cáo được viết thay lời Lê Lợi năm 1428.
- Chọn một điểm dẫn duy nhất: các văn bản mang tầm tuyên ngôn, thể cáo, con người Nguyễn Trãi, nhan đề hay hoàn cảnh kết thúc chiến tranh; đừng dẫn dắt quá dài mới nhắc tên tác phẩm.
- Câu cuối khoanh đúng phạm vi đề: toàn bài cáo hay chỉ một phần (luận đề nhân nghĩa, tội ác giặc Minh, quá trình khởi nghĩa, lời tuyên bố hòa bình).
- Chỉ trích những câu em nhớ chính xác theo bản dịch Bùi Kỷ mà SGK sử dụng, mỗi mở bài không quá hai câu trích.
- Bài kiểm tra thường cần 4–7 câu; đề học sinh giỏi có thể viết dài hơn, giàu tính lí luận hơn.
Mở bài trực tiếp Bình Ngô đại cáo
Mẫu 1 – ngắn gọn
Nguyễn Trãi không chỉ là mưu sĩ hàng đầu của nghĩa quân Lam Sơn mà còn là cây bút chính luận lớn nhất thế kỉ XV. Năm 1428, khi quân Minh đã rút về nước, ông thay lời Lê Lợi viết Bình Ngô đại cáo để báo cho muôn dân biết cuộc kháng chiến đã toàn thắng. Áng cáo ấy vừa tổng kết mười năm đánh giặc, vừa công bố cho thiên hạ biết Đại Việt đã độc lập, bằng một giọng văn hùng tráng hiếm có.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, vấn đề
Nguyễn Trãi (1380–1442), hiệu Ức Trai, là người văn võ toàn tài hiếm thấy trong lịch sử nước ta. Ông theo Lê Lợi từ những năm đầu khởi nghĩa, dâng kế sách đánh giặc, thảo thư từ gửi tướng Minh, rồi để lại một khối lượng tác phẩm lớn bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, từ Quân trung từ mệnh tập đến Quốc âm thi tập. Trong di sản ấy, Bình Ngô đại cáo giữ một vị trí đặc biệt: đó là văn kiện chính thức công bố thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Minh, đồng thời khẳng định chủ quyền của đất nước. Bằng thể cáo trang trọng, lập luận chặt chẽ và cảm hứng anh hùng ca, tác phẩm đã hội tụ lí tưởng nhân nghĩa, tình yêu đất nước cùng niềm tự hào về một Đại Việt có văn hiến, có lịch sử riêng.
Mẫu 3 – từ hoàn cảnh ra đời
Cuối năm 1427, Liễu Thăng dẫn viện binh sang thì bị đánh tan ở Chi Lăng, cánh quân Mộc Thạnh cũng tháo chạy, Vương Thông bị vây ở Đông Quan đành cầu hòa, kéo quân về phương Bắc. Hai mươi năm đô hộ của nhà Minh khép lại. Trong không khí ấy, năm 1428, Lê Lợi giao cho Nguyễn Trãi soạn một bài cáo để tuyên bố với thiên hạ rằng giặc đã bị dẹp yên. Bình Ngô đại cáo ra đời như thế, mang theo hơi nóng của những trận đánh vừa dứt và niềm vui của một dân tộc vừa giành lại non sông. Đọc bài cáo, ta thấy Nguyễn Trãi không chỉ báo tin thắng trận mà còn tổng kết cả một cuộc chiến chính nghĩa, lí giải vì sao Đại Việt phải đứng lên và vì sao Đại Việt chiến thắng.
Mở bài gián tiếp Bình Ngô đại cáo
Mẫu 4 – từ ba văn bản mang tầm tuyên ngôn
Lịch sử dựng nước và giữ nước của người Việt được đánh dấu bằng những văn bản có sức nặng của một lời tuyên bố chủ quyền. Ở thế kỉ XI, bài thơ Nam quốc sơn hà, tương truyền do Lý Thường Kiệt sáng tác, vang lên bên phòng tuyến sông Như Nguyệt. Năm 1945, tại quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh một nhà nước Việt Nam mới. Nằm giữa hai mốc son ấy là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, áng văn được hậu thế gọi là “bản tuyên ngôn độc lập thứ hai”. Ra đời năm 1428 sau chiến thắng quân Minh, bài cáo không chỉ khẳng định quyền làm chủ đất nước mà còn kể lại cả chặng đường mười năm kháng chiến bằng giọng văn hào hùng của người trong cuộc.
Mẫu 5 – so sánh với Nam quốc sơn hà
Đặt Bình Ngô đại cáo bên cạnh Nam quốc sơn hà, người đọc dễ nhận ra bước tiến của ý thức dân tộc sau hơn ba trăm năm. Bài thơ thời Lý dựa vào “sách trời” để khẳng định sông núi nước Nam thuộc về vua Nam. Đến Nguyễn Trãi, nền độc lập được chứng minh bằng những yếu tố cụ thể hơn nhiều: nền văn hiến có từ lâu, bờ cõi riêng, phong tục riêng, các triều đại tự chủ sánh ngang phương Bắc và hào kiệt không thời nào vắng bóng. Từ niềm tin mang màu sắc thiêng liêng, ý thức quốc gia đã trở thành một hệ thống lí lẽ chặt chẽ. Bởi vậy, Bình Ngô đại cáo xứng đáng được coi là đỉnh cao của văn chính luận trung đại, nơi lòng yêu nước được nâng lên thành tư tưởng.
Mẫu 6 – từ con người văn võ của Nguyễn Trãi
Hiếm có nhân vật nào trong lịch sử Việt Nam vừa cầm quân bằng mưu lược, vừa cầm bút bằng tài hoa như Nguyễn Trãi. Ở Lam Sơn, ông chủ trương “mưu phạt tâm công”, đánh vào lòng người hơn là chỉ dựa vào binh khí; trên văn đàn, ông là nhà thơ của Quốc âm thi tập, là người viết những lá thư khiến tướng giặc phải chùn tay. Năm 1980, UNESCO đã long trọng kỉ niệm tròn sáu thế kỉ kể từ ngày ông ra đời. Kết tinh rực rỡ nhất của con người văn võ ấy chính là Bình Ngô đại cáo, nơi mưu lược của nhà quân sự, tầm nhìn của nhà chính trị và cảm xúc của nhà thơ cùng hòa vào lời tuyên bố chiến thắng của dân tộc.
Mẫu 7 – từ đặc điểm thể cáo
Cáo là thể văn hành chính của nhà vua, để vua chúa ban bố một chủ trương hoặc loan báo một việc hệ trọng tới khắp thần dân. Văn cáo thường viết theo lối biền ngẫu: các vế đối nhau cân xứng, lời lẽ trang nghiêm, lập luận rành mạch. Một thể văn khuôn phép như vậy rất dễ khô cứng, thế mà dưới ngòi bút Nguyễn Trãi, Bình Ngô đại cáo lại sục sôi cảm xúc: có lúc đau xót, có lúc căm giận, có lúc dồn dập như hồi trống trận, rồi khép lại bằng niềm hân hoan rộng mở. Tìm hiểu bài cáo vì thế cũng là tìm hiểu cách một nhà văn lớn biến thể loại quan phương thành áng văn chương làm rung động nhiều thế hệ.
Mẫu 8 – từ ý nghĩa nhan đề
Nhan đề Bình Ngô đại cáo có thể hiểu là bài cáo lớn tuyên bố việc dẹp yên giặc Ngô. Kẻ thù của nghĩa quân Lam Sơn là nhà Minh, vậy vì sao Nguyễn Trãi lại gọi là “Ngô”? Cách giải thích phổ biến cho rằng Chu Nguyên Chương, người lập ra nhà Minh, quê ở vùng đất Ngô cũ và từng xưng Ngô Vương, nên chữ ấy vừa chỉ đúng gốc gác vừa hàm ý xem thường kẻ xâm lược. Chỉ trong bốn chữ nhan đề, Nguyễn Trãi đã đặt Đại Việt vào tư thế người chiến thắng, đường hoàng tuyên cáo với thiên hạ. Toàn bộ bài cáo sau đó triển khai chính tư thế ấy: một dân tộc có văn hiến, có chính nghĩa, đứng lên trừ bạo và giành lại độc lập.
Mở bài Bình Ngô đại cáo theo từng dạng đề
Mẫu 9 – đề phân tích phần mở đầu (tư tưởng nhân nghĩa)
Mọi cuộc chiến muốn được lòng người đều phải trả lời câu hỏi: đánh giặc vì điều gì? Nguyễn Trãi trả lời ngay ở những dòng đầu tiên của Bình Ngô đại cáo: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân, Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Ở Nguyễn Trãi, nhân nghĩa không dừng lại ở khái niệm đạo đức chung chung của Nho gia mà gắn với cuộc sống bình yên của người dân và việc diệt trừ kẻ tàn bạo. Từ nền tảng ấy, tác giả chứng minh Đại Việt có đủ tư cách một nước độc lập với văn hiến, lãnh thổ, phong tục, lịch sử của riêng mình. Phần mở đầu vì thế đóng vai trò luận đề chính nghĩa cho cả bài cáo.
Mẫu 10 – đề phân tích bản cáo trạng tội ác giặc Minh
Sau khi nêu luận đề nhân nghĩa, Bình Ngô đại cáo chuyển sang một đoạn văn đầy phẫn uất: bản cáo trạng tội ác của giặc Minh trong hai mươi năm đô hộ. Những câu như “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn, Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ” cho thấy kẻ thù không chỉ cướp nước mà còn chà đạp lên sự sống của con người. Đằng sau từng tội trạng là nỗi khổ của người dân bị bắt mò ngọc, đãi vàng, bị vơ vét đến kiệt quệ, và là tấm lòng thương dân sâu sắc của Nguyễn Trãi. Đoạn văn này vừa vạch trần bộ mặt phi nghĩa của giặc, vừa cho thấy cuộc đứng lên của nghĩa quân là điều tất yếu.
Mẫu 11 – đề phân tích quá trình khởi nghĩa và hình tượng Lê Lợi
Bình Ngô đại cáo không chỉ là văn bản tuyên bố mà còn là khúc tráng ca về cuộc kháng chiến chống Minh. Phần dài nhất của bài cáo, Nguyễn Trãi dành để tái hiện cuộc khởi nghĩa từ những ngày đầu gian khó, khi “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, Nhân tài như lá mùa thu”, lương thảo có lúc cạn sạch, quân lính có lúc không đủ một đội, cho đến khi nghĩa quân lớn mạnh và làm nên những trận đánh long trời lở đất. Ở trung tâm bức tranh ấy là hình tượng Lê Lợi, người chủ tướng mang nỗi căm thù giặc, lòng thương dân và ý chí không lùi bước. Phân tích phần này, ta sẽ hiểu sức mạnh nào đã đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi.
Mẫu 12 – đề phân tích lời tuyên bố kết thúc chiến tranh
Mỗi bài cáo đều phải đi tới lời tuyên bố, và ở Bình Ngô đại cáo, đó là những câu văn rộn ràng nhất. Sau bao đau thương, sau những trận đánh đẫm máu, Nguyễn Trãi viết: “Xã tắc từ đây vững bền, Giang sơn từ đây đổi mới”. Giọng văn chuyển từ hào hùng sang trang trọng, hân hoan, như tiếng nói chung của cả một dân tộc vừa đứng dậy sau hai mươi năm tủi nhục. Ở đoạn cuối này, người đọc bắt gặp niềm tin vào tương lai, ý thức về lẽ thịnh suy của trời đất và lòng biết ơn tổ tiên. Đó là lời khép lại cuộc chiến, đồng thời mở ra một thời kì mới cho Đại Việt.
Mở bài Bình Ngô đại cáo nâng cao
Mẫu 13 – từ đặc trưng văn học trung đại
Thời trung đại, văn chương nước ta có một đặc điểm dễ nhận thấy: văn chương không tách rời lịch sử và chính trị. Một bài hịch có thể khích lệ cả đạo quân, một bài cáo có thể khép lại cả một cuộc chiến. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn ở thế kỉ XIII là một minh chứng, và đến thế kỉ XV, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đưa truyền thống ấy lên tầm cao mới. Bài cáo vừa là văn kiện nhà nước, vừa là trang sử ghi lại cuộc khởi nghĩa, vừa là tác phẩm nghệ thuật có hình tượng và cảm xúc. Chính sự hòa quyện của ba phẩm chất này làm nên sức sống lâu bền của Bình Ngô đại cáo trong lòng người đọc hôm nay.
Mẫu 14 – cho bài học sinh giỏi về tư tưởng nhân nghĩa
Nhân nghĩa vốn là phạm trù cốt lõi của Nho giáo, được các bậc thánh hiền phương Bắc bàn luận suốt hàng nghìn năm. Thế nhưng khi bước vào Bình Ngô đại cáo, khái niệm ấy được Nguyễn Trãi trao cho một nội dung rất Việt Nam: nhân nghĩa là làm cho dân được yên, là trừ bỏ kẻ bạo ngược đang giày xéo đất nước. Từ chuẩn mực đạo đức của người quân tử, nhân nghĩa trở thành lí tưởng chính trị và mục đích chiến đấu của cả một cuộc khởi nghĩa. Người chiến thắng không trả thù mà mở đường hiếu sinh, cấp thuyền, cấp ngựa cho quân giặc thua trận được về nước. Như vậy, đọc Bình Ngô đại cáo là theo dõi hành trình nhân nghĩa đi từ trang sách thánh hiền vào đời sống của một dân tộc, để trở thành sức mạnh giúp Đại Việt thắng giặc và giữ được hòa bình lâu dài. Bài viết sẽ làm rõ tư tưởng ấy qua từng phần của bài cáo.
Nên chọn mẫu mở bài Bình Ngô đại cáo nào?
Với đề phân tích toàn bài, em có thể dùng mẫu trực tiếp hoặc mẫu so sánh các văn bản tuyên ngôn để vào đề nhanh mà vẫn có chiều sâu. Đề hỏi riêng một phần của bài cáo thì nên chọn mẫu theo dạng đề tương ứng và khoanh đúng phạm vi ở câu cuối. Bài thi học sinh giỏi cần mở bài giàu tính lí luận như mẫu 13, 14. Dù chọn mẫu nào, hãy viết lại bằng giọng của mình và kiểm tra kĩ câu trích theo bản dịch Bùi Kỷ trong SGK.
Lúc cần liên hệ sáng tác khác của cùng tác giả, tuyển tập tác phẩm Nguyễn Trãi là nơi dễ chọn dẫn chứng.
Xem thêm:
- Soạn Bình Ngô đại cáo (Nguyễn Trãi) – Chân trời sáng tạo và Kết nối tri thức 10
- Đại cáo bình Ngô: tác giả, tác phẩm, bố cục, giá trị
- Tóm tắt Bình Ngô đại cáo ngắn gọn, đầy đủ
- Phân tích Đại cáo bình Ngô – bài văn học sinh giỏi
- Tác giả Nguyễn Trãi: tiểu sử, sự nghiệp, tác phẩm chính
- Kết bài Bình Ngô đại cáo hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, nâng cao, theo đề