Phân tích Thư lại dụ Vương Thông là đề văn nghị luận thường gặp khi học Bài 7 “Anh hùng và nghệ sĩ” trong sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo; học sinh dùng sách Ngữ văn 10 Cánh diều cũng gặp bức thư này ở phần Tự đánh giá (nhan đề Thư dụ Vương Thông lần nữa). Đây là bức thư Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi, trích từ Quân trung từ mệnh tập, gửi tổng binh Vương Thông khi quân Minh bị vây ở thành Đông Quan khoảng đầu năm 1427.
Bài viết gồm dàn ý và 5 bài văn mẫu. Văn bản SGK dùng bản dịch của Phan Duy Tiếp (Nguyễn Văn Nguyên hiệu đính), bản dịch còn được bảo hộ, nên các bài mẫu chỉ trích những câu ngắn. Để nắm hoàn cảnh ra đời và các câu hỏi đọc hiểu, em xem lại bài soạn bài Thư lại dụ Vương Thông.
Những điều cần nắm trước khi phân tích Thư lại dụ Vương Thông
- Tác giả: Nguyễn Trãi (1380–1442), mưu sĩ của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhà văn chính luận kiệt xuất.
- Hoàn cảnh: sau trận Tốt Động – Chúc Động (cuối 1426), Vương Thông rút vào thành Đông Quan, bề ngoài xin hòa, bên trong chờ viện binh; nghĩa quân vây thành.
- Mục đích: dụ Vương Thông và tướng sĩ nhà Minh ra hàng, tránh đổ máu.
- Mạch lập luận: nguyên lí thời thế → vạch trần sự gian trá, thế khó của nhà Minh → sáu điều tất phải thua → hai lựa chọn: hàng hoặc quyết chiến.

Dàn ý phân tích Thư lại dụ Vương Thông
1. Mở bài
– Giới thiệu Nguyễn Trãi và Quân trung từ mệnh tập – những văn thư được ví như vũ khí sắc bén của nghĩa quân Lam Sơn.
– Giới thiệu bức thư: gửi Vương Thông khi quân Minh bị vây ở Đông Quan; vấn đề nghị luận: nghệ thuật thuyết phục đối phương ra hàng.
2. Thân bài
a. Nguyên lí thời thế – tiền đề của cả bức thư
+ “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi.” – một chân lí khó bác bỏ.
+ Lí lẽ: có thời thế thì nhỏ hóa lớn, mất thời thế thì mạnh hóa yếu.
+ Áp vào tướng Minh: không hiểu thời thế, dùng lời dối trá → bị coi là hạng thất phu.
⇒ Đặt đối phương vào thế thấp ngay từ đầu, tạo điểm tựa cho các lập luận sau.
b. Vạch trần sự gian trá và thế yếu của nhà Minh
+ Giả hòa mà đợi viện binh, trong ngoài khác nhau → không thể tin.
+ Dẫn chuyện nhà Tần: bạo ngược mà mất nước; nhà Minh hà khắc hơn → thất bại là “mệnh trời”.
+ Nhà Minh rối ren: phương bắc có giặc, phía nam có loạn.
+ Bác bỏ lời khinh miệt của tướng Minh bằng chính các tấm gương lịch sử Trung Hoa.
⇒ Lấy lí lẽ và tư tưởng mà đối phương tôn thờ để đánh đổ niềm tin của họ.
c. Thế cùng và sáu điều tất phải thua
+ Quân trong thành: kiệt sức, thiếu lương, không viện binh, lòng người oán giận.
+ Sáu điều thua bao quát thiên thời, địa lợi, nhân hòa; lặp cấu trúc “Đó là điều phải thua thứ…”.
⇒ Đoạn văn đanh thép, dồn đối phương vào chỗ tuyệt vọng.
d. Lời khuyên hàng – vừa cương vừa nhu
+ Giải pháp: nộp Phương Chính, Mã Kỳ; hai nước hòa hảo; cấp đường, thuyền cho về nước.
+ Nếu không: ra đồng bằng quyết một trận, đừng co cụm chịu nhục.
⇒ Thể hiện tư tưởng nhân nghĩa, chuộng hòa bình và thế chủ động của nghĩa quân.
e. Nghệ thuật lập luận
+ Bố cục chặt chẽ, đi từ nguyên lí đến thực tế rồi đến giải pháp.
+ Dẫn chứng lịch sử phong phú; liệt kê, lặp cấu trúc.
+ Giọng văn linh hoạt: mỉa mai, đe dọa, rồi mềm mỏng, hứa hẹn.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị của bức thư: văn chính luận mẫu mực, “bút” góp sức cùng “gươm”.
– Liên hệ: bài học về cách thuyết phục bằng lí lẽ và sự tôn trọng người nghe.
Phân tích Thư lại dụ Vương Thông ngắn gọn – mẫu 1
Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Nguyễn Trãi không chỉ bày mưu tính kế mà còn dùng ngòi bút để “đánh” vào lòng quân giặc. Thư lại dụ Vương Thông, bức thư gửi tổng binh nhà Minh khi quân Minh bị vây ở thành Đông Quan, là một minh chứng tiêu biểu cho tài năng ấy.
Bức thư mở đầu bằng một nguyên lí của nghề binh: “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi.” Được thời có thế thì yếu hóa mạnh, mất thời thất thế thì mạnh hóa yếu. Từ đó, tác giả thẳng thắn chê các tướng Minh không hiểu thời thế lại nói lời dối trá, chẳng khác gì hạng thất phu. Chỉ vài câu, đối phương đã bị đặt vào thế yếu.
Tiếp theo, Nguyễn Trãi vạch trần sự gian trá của quân Minh: ngoài thì xin hòa, trong thì đắp lũy chờ viện binh. Ông dẫn chuyện nhà Tần tàn bạo mà mất nước để khẳng định nhà Minh hà khắc tất sẽ bại vong, đó là mệnh trời; huống chi nhà Minh đang có giặc ở phương bắc, loạn ở phương nam.
Đoạn hay nhất là phần chỉ ra thế cùng và sáu điều tất phải thua của quân Minh: thiên tai, viện binh bị chặn, quân mạnh phải giữ biên giới phía bắc, dân khổ vì chiến tranh, triều đình rối loạn, trong khi nghĩa quân đồng lòng, quân trong thành mỏi mệt. Câu “Đó là điều phải thua thứ…” lặp lại sáu lần như những nhát búa giáng xuống.
Cuối thư, tác giả mở ra lối thoát: nộp đầu Phương Chính, Mã Kỳ thì hai bên hòa hảo, quân Minh được cấp đường, thuyền về nước; bằng không thì ra đồng bằng quyết một trận. Lời lẽ vừa cứng rắn vừa độ lượng.
Với lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác đáng, giọng văn khi đanh thép khi mềm mỏng, bức thư cho thấy Nguyễn Trãi là bậc thầy văn chính luận, và tư tưởng nhân nghĩa, yêu hòa bình của ông luôn song hành cùng ý chí quyết thắng.
Phân tích văn bản Thư lại dụ Vương Thông đầy đủ – mẫu 2
Có những trận đánh diễn ra trên chiến trường, và có những trận đánh diễn ra trên trang giấy. Trong những năm kháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Trãi đã viết hàng loạt thư từ, văn kiện gửi tướng giặc, sau được tập hợp trong Quân trung từ mệnh tập. Thư lại dụ Vương Thông – bức thư dụ hàng Vương Thông lần thứ hai – ra đời khoảng đầu năm 1427, khi quân Minh bị vây chặt ở thành Đông Quan sau thất bại ở Tốt Động – Chúc Động. Bức thư là một áng văn nghị luận mẫu mực, kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ sắc bén với tinh thần nhân nghĩa.
Mở đầu, sau lời chào đúng lễ gửi “quan Tổng binh cùng các vị đại nhân”, tác giả nêu ngay luận điểm then chốt: “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi.” Đây là một chân lí của binh pháp mà chính tướng Minh cũng không thể phủ nhận. Tác giả giải thích: “Được thời có thế thì mất biến thành còn, nhỏ hóa ra lớn; mất thời thất thế, thì mạnh hóa ra yếu, yên lại chuyển nguy.” Và sự thay đổi ấy diễn ra nhanh như trở bàn tay. Từ tiền đề ấy, ông quay sang đối phương: không hiểu thời thế, lại dùng lời dối trá, “thế chẳng phải là bọn thất phu hèn kém ư?”. Câu hỏi tu từ mang giọng khinh bỉ, hạ thấp địa vị của kẻ vốn tự xem mình là tướng thiên triều. Ngay từ đoạn đầu, thế chủ động trong cuộc đối thoại đã thuộc về người viết.
Sang phần thứ hai, Nguyễn Trãi vạch trần sự gian trá của quân Minh: “bề ngoài thì giả cách giảng hoà, bên trong ngầm mưu gian trá”, đào hào, đắp lũy, ngồi đợi viện binh. Hành động ấy khiến lời hòa của họ không còn đáng tin. Tác giả đưa ra một so sánh lịch sử đầy sức nặng: nhà Tần thôn tính sáu nước mà không sửa đức chính nên thân mất nước tan; nay nhà Minh không mạnh bằng Tần mà lại quá hà khắc, thất bại “ấy là mệnh trời, không phải sức người vậy”. Nhắc đến mệnh trời, Nguyễn Trãi đánh vào niềm tin Nho giáo mà chính đối phương tôn thờ: kẻ làm trái đạo trời tất bị trừng phạt. Không dừng ở đó, ông chỉ ra nhà Minh đang rối ren: phương bắc có giặc, phía nam có loạn Tầm Châu, tự giữ còn chưa xong thì làm sao mưu đồ nước khác. Những lời đe dọa mượn oai Trương Phụ của tướng Minh cũng bị bẻ gãy: dù nhà Minh dốc quân cả nước sang thì cũng chỉ thúc cho bại vong đến nhanh hơn. Tác giả còn dẫn Lưu Bị, Khổng Minh, Y Doãn, Thái Công… để bác bỏ những lời lẽ khinh miệt, khẳng định con cháu nhà Trần được “mệnh trời đã cho, lòng người đã theo”. Dùng chính lịch sử Trung Hoa để đáp lại người Trung Hoa, lập luận trở nên khó cãi.
Phần thứ ba là đoạn văn đặc sắc nhất. Tác giả miêu tả thế cùng của quân trong thành: sức hết kế cùng, “trong thiếu lương thực, ngoài không viện binh”, bám giữ một tòa thành trơ trọi. Người trong thành, dù là người Nam hay người Minh, đều oán giận; có kẻ hiến kế hạ thành, có kẻ trèo lũy trốn ra. Rồi ông kết luận: “Bọn người đang bị khốn ấy lại sẽ giết lẫn nhau, hà tất phải đợi đến quân sĩ của tôi nữa.” Tiếp đó là sáu điều tất phải thua: nước lũ mùa hạ làm lũy lở, ngựa chết quân ốm; đường sá cửa ải bị chặn nên viện binh đến cũng thua; quân mạnh ngựa khỏe phải dồn lên biên giới phía bắc; chiến tranh liên miên khiến dân Minh thất vọng; triều đình Minh “Gian thần chuyên chính, bạo chúa giữ ngôi”; còn nghĩa quân thì trên dưới đồng lòng, “vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc”. Sáu lí do bao quát thiên thời, địa lợi, nhân hòa, được nối bằng điệp cấu trúc “Đó là điều phải thua thứ…” tạo nhịp văn dồn dập, đanh thép như những bản án liên tiếp.
Đến phần cuối, giọng văn chuyển sang mềm mỏng. “Nay giữ cái thành cỏn con để chờ sáu điều tất bại, tôi lấy làm tiếc cho các ông lắm!” – lời tiếc nuối như của người đứng trên cao nhìn xuống kẻ đang lầm đường. Tác giả đưa ra giải pháp hợp lí cho cả hai bên: chém Phương Chính, Mã Kỳ – những kẻ khiến “dân chúng lầm than, thiên hạ oán thán” – đem nộp, thì người trong thành khỏi bị giết, hai nước hòa hảo, binh đao dứt hẳn. Nếu muốn về, quân Minh sẽ được sửa đường, sắm thuyền đưa về yên ổn; phía Đại Việt vẫn giữ lễ với nước lớn. Còn nếu không nghe, hãy ra đồng bằng “quyết một trận được thua, để xem khéo vụng”, đừng co cụm trong thành mà mang nhục. Hai lựa chọn được đặt cạnh nhau nhưng rõ ràng chỉ có một con đường khôn ngoan. Cách ứng xử ấy vừa thể hiện thế mạnh, vừa thể hiện lòng nhân nghĩa, muốn giảm thương vong cho cả hai phía.
Về nghệ thuật, bức thư có bố cục chặt chẽ, đi từ nguyên lí chung đến thực tế cụ thể rồi tới giải pháp; luận điểm rõ ràng, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng phong phú. Giọng văn linh hoạt: khi mỉa mai, khinh bỉ; khi đanh thép, uy hiếp; khi ôn tồn, hứa hẹn. Tất cả nhắm đúng tâm lí của một vị tướng đang cô thế.
Thư lại dụ Vương Thông không chỉ là một văn kiện quân sự – ngoại giao mà còn là một tác phẩm văn chương chính luận xuất sắc. Qua bức thư, ta thấy một Nguyễn Trãi thấu hiểu thời thế, giàu bản lĩnh và luôn đặt chữ nhân nghĩa lên trên, đúng như tinh thần “đao bút” mà ông từng nói tới: ngòi bút cũng là vũ khí bảo vệ đất nước.
Phân tích nghệ thuật lập luận trong Thư lại dụ Vương Thông – mẫu 3
Nói đến văn chính luận trung đại Việt Nam, không thể không nhắc đến Nguyễn Trãi. Thư lại dụ Vương Thông tuy chỉ là một bức thư ngắn nhưng chứa đựng gần như đủ những phẩm chất của một văn bản nghị luận mẫu mực: luận điểm rõ, lí lẽ chặt, dẫn chứng xác đáng và giọng điệu biến hóa.
Trước hết là cách xây dựng hệ thống luận điểm. Bức thư chỉ có một mục đích: khiến Vương Thông ra hàng. Để đạt mục đích ấy, tác giả không vội khuyên hàng mà đi qua bốn bước: nêu nguyên lí thời thế; chứng minh nhà Minh đã mất thời thế; chỉ ra quân trong thành đang ở thế cùng; rồi mới đưa giải pháp. Mỗi bước là tiền đề cho bước sau, khiến lời khuyên cuối thư trở thành kết luận tất yếu chứ không phải một lời van nài.
Thứ hai là cách chọn tiền đề. Câu mở đầu “Kể ra người dùng binh giỏi là ở chỗ biết rõ thời thế mà thôi.” là một chân lí mà bất cứ vị tướng nào đọc binh thư cũng phải công nhận. Khi đối phương đã gật đầu với tiền đề, họ buộc phải chấp nhận những suy luận tiếp theo. Tương tự, khi nói về “mệnh trời”, Nguyễn Trãi dựa vào tư tưởng thiên mệnh của Nho giáo – nền tảng tư tưởng của chính triều Minh. Đây là cách lập luận gậy ông đập lưng ông rất khôn khéo.
Thứ ba là hệ thống dẫn chứng. Các dẫn chứng đều lấy từ lịch sử Trung Hoa: nhà Tần mất nước, Lưu Bị phục hưng nhà Hán, Y Doãn cày ruộng, Thái Công câu cá, rồi Đường Thái Tông bắt Kiến Đức. Người Minh không thể bảo những chuyện ấy là bịa đặt. Bên cạnh đó là dẫn chứng thực tế về tình hình nhà Minh (giặc phương bắc, loạn Tầm Châu) và tình cảnh trong thành (thiếu lương, không viện binh). Sự kết hợp giữa sử sách và thực tế làm lí lẽ vừa có chiều sâu vừa có sức nặng.
Thứ tư là nghệ thuật liệt kê và điệp cấu trúc ở phần sáu điều tất phải thua. Mỗi lí do được nêu ngắn gọn rồi khép lại bằng câu “Đó là điều phải thua thứ…”. Nhịp điệu đều đặn, dồn dập khiến người đọc có cảm giác từng cánh cửa hi vọng lần lượt đóng lại. Đến điều thứ sáu, tác giả đặt hình ảnh nghĩa quân “trên dưới cùng lòng” đối lập với quân trong thành “đều mỏi mệt”, khép lại chuỗi lập luận bằng một so sánh không thể rõ hơn.
Cuối cùng là giọng điệu. Nguyễn Trãi biết lúc nào cần cứng, lúc nào cần mềm. Ông mỉa mai khi gọi tướng Minh là hạng thất phu, đanh thép khi kể sáu điều thua, nhưng lại ôn tồn khi hứa sửa đường, sắm thuyền đưa quân Minh về nước. Giọng cương – nhu xen kẽ ấy vừa dọa, vừa dỗ, đánh trúng tâm lí một vị tướng đang hoang mang giữa hai ngả: cố thủ hay đầu hàng.
Qua bức thư, ta học được cách thuyết phục: xuất phát từ điều người nghe tin, dùng bằng chứng người nghe không thể chối, và luôn để cho họ một lối thoát có danh dự. Đó là bí quyết khiến văn chính luận của Nguyễn Trãi có sức mạnh đặc biệt.
Phân tích sáu điều tất phải thua trong Thư lại dụ Vương Thông – mẫu 4
Trong Thư lại dụ Vương Thông, đoạn Nguyễn Trãi chỉ ra sáu điều khiến quân Minh tất phải thua được xem là phần trọng tâm, sắc sảo nhất. Đọc kĩ đoạn văn, ta thấy cả một bức tranh toàn cảnh về thế trận giữa hai bên, được trình bày như một bản phân tích quân sự.
Trước khi liệt kê, tác giả vẽ ra thế cùng của quân Minh trong thành: sức hết kế cùng, quân sĩ nhọc mệt, “trong thiếu lương thực, ngoài không viện binh”, bám giữ một mảnh đất nhỏ, một tòa thành trơ trọi. Ông ví tình cảnh ấy như thịt trên thớt, cá trong nồi. Lòng người trong thành cũng đã lìa tan: quan lại từ Đô ti trở xuống oán giận vì bị lừa dối, có người tính kế hạ thành, có kẻ trèo lũy trốn ra. Trên nền thực tế ấy, sáu điều tất bại hiện ra như điều hiển nhiên.
Điều thứ nhất thuộc về thiên thời: “Nước lũ mùa hạ chảy tràn”, cầu sập, “rào luỹ sụp lở”, củi cỏ thiếu thốn, “ngựa chết quân ốm”. Thiên nhiên nơi đất khách trở thành kẻ thù của quân xâm lược.
Điều thứ hai thuộc về địa lợi: đường sá, cửa ải hiểm trở đều có quân và voi của nghĩa quân đóng giữ; viện binh có đến cũng thua, mà “viện binh đã thua, bọn các ông tất bị bắt”. Tác giả còn dẫn chuyện Đường Thái Tông bắt Kiến Đức khiến Thế Sung phải ra hàng để cho thấy số phận kẻ cố thủ phụ thuộc hoàn toàn vào đạo quân cứu viện.
Điều thứ ba và thứ tư nói về thế của nhà Minh: quân mạnh ngựa khỏe phải đóng ở biên giới phía bắc phòng quân Nguyên, không rảnh lo phía nam; triều đình liên tiếp gây chiến khiến “dân sống không yên, nhao nhao thất vọng”. Nhà Minh đã mất lòng dân ngay trên đất mình.
Điều thứ năm đánh thẳng vào nội tình triều Minh: “Gian thần chuyên chính, bạo chúa giữ ngôi, người cốt nhục hại nhau, chốn cung đình sinh biến.” Câu văn bốn vế đối nhau chan chát, phơi bày một triều đình rối ren từ trên xuống.
Điều thứ sáu là sự đối lập giữa hai bên: nghĩa quân trên dưới đồng lòng, tướng sĩ hết sức, quân càng luyện càng giỏi, “vừa cày ruộng lại vừa đánh giặc”; còn quân trong thành thì mỏi mệt, tự chuốc lấy thất bại. Đây là yếu tố nhân hòa – điều quyết định mọi cuộc chiến.
Sáu điều được sắp xếp từ ngoại cảnh (trời đất, đường sá) đến nội tình nhà Minh rồi kết lại ở sức mạnh của nghĩa quân, bao quát đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Mỗi điều khép lại bằng câu “Đó là điều phải thua thứ…”, tạo nhịp văn dồn dập như từng hồi trống trận. Đoạn văn không chỉ thuyết phục bằng lí lẽ mà còn làm đối phương dao động về tinh thần. Nhờ vậy, lời khuyên hàng ở cuối thư mới có sức nặng: khi mọi đường đều đã bị chặn, lối thoát duy nhất chính là lối mà người viết mở ra.
Phân tích, đánh giá Thư lại dụ Vương Thông (học sinh giỏi) – mẫu 5
Trong bài Bảo kính cảnh giới (bài 57), Nguyễn Trãi có câu thơ “Đao bút phải dùng tài đã vẹn”. Với ông, trong thời loạn, ngòi bút cũng phải trở thành vũ khí. Thư lại dụ Vương Thông – một trong những văn thư tiêu biểu của Quân trung từ mệnh tập – chính là minh chứng rõ ràng nhất cho quan niệm ấy. Bức thư không chỉ là một văn kiện dụ hàng mà còn là một tác phẩm nghị luận thể hiện tầm nhìn chiến lược, bản lĩnh ngoại giao và tấm lòng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi.
Điều đầu tiên đáng đánh giá là tầm nhìn về thời thế. Toàn bộ bức thư được dựng trên khái niệm “thời thế”: ai nắm được thời thế thì yếu hóa mạnh, ai để mất thời thế thì mạnh hóa yếu. Đây không phải lời nói suông mà là kết quả của sự quan sát tỉnh táo cục diện. Nguyễn Trãi thấy rõ quân Minh ở Đông Quan đã kiệt quệ, triều Minh đang rối ren, còn nghĩa quân đang ở thế thắng. Ông hiểu rằng lúc này một bức thư đúng lúc có thể làm được việc của nhiều trận đánh: làm lung lay ý chí cố thủ của kẻ địch.
Thứ hai là nghệ thuật đánh vào lòng người – điều mà Nguyễn Trãi luôn đề cao. Bức thư tác động vào đối phương theo nhiều hướng: vào lí trí bằng nguyên lí binh pháp và dẫn chứng lịch sử; vào niềm tin bằng tư tưởng mệnh trời; vào nỗi sợ bằng sáu điều tất bại; vào lòng tự trọng bằng lời mỉa mai “bọn thất phu hèn kém”; và cuối cùng vào mong muốn được sống bằng lời hứa sửa đường, sắm thuyền cho về nước. Một vị tướng đang bị vây, thiếu lương, không viện binh, đọc những dòng ấy khó tránh khỏi dao động.
Thứ ba là bản lĩnh và sự tự tôn dân tộc. Người viết đứng ở tư thế của kẻ nắm chủ động: vạch mặt sự gian trá, chê trách cách hành xử của tướng Minh, bác bỏ những lời lẽ khinh miệt bằng chính lịch sử Trung Hoa. Lời thách đấu cuối thư – ra đồng bằng “quyết một trận được thua, để xem khéo vụng” – cho thấy nghĩa quân không hề sợ chiến đấu. Họ chọn con đường hòa không phải vì yếu mà vì mạnh.
Thứ tư, và có lẽ đáng quý nhất, là tinh thần nhân nghĩa. Nguyễn Trãi không đòi tiêu diệt đến cùng. Ông chỉ yêu cầu trừng trị Phương Chính, Mã Kỳ – những kẻ đã khiến “người sống bị hại, người chết ngậm oan” – còn binh lính thì được về nước yên ổn, hai nước “hoà hảo lại thông, can qua dứt hẳn”. Nghĩa quân còn hứa vẫn giữ lễ với nước lớn. Đó là cách nghĩ của người biết nhìn xa: kết thúc chiến tranh bằng ít máu nhất, mở đường cho hòa bình lâu dài. Tư tưởng này về sau được nâng lên thành tuyên ngôn trong Bình Ngô đại cáo, khi nghĩa quân cấp thuyền, cấp ngựa cho quân Minh bại trận về nước.
Tất nhiên, là một văn kiện chiến tranh, bức thư có những lời lẽ gay gắt, thậm chí khinh miệt đối phương. Nhưng đặt trong hoàn cảnh ấy, giọng điệu cứng rắn là cần thiết để phá vỡ tâm lí kiêu ngạo của tướng thiên triều. Và chính sự kết hợp giữa cứng rắn với mềm dẻo mới làm nên sức thuyết phục đặc biệt của bức thư.
Lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn của Nguyễn Trãi: cuối năm 1427, sau khi viện binh Liễu Thăng bị tiêu diệt, Vương Thông phải giảng hòa và rút quân về nước. Thư lại dụ Vương Thông vì thế không chỉ có giá trị văn chương mà còn góp phần vào thắng lợi của cả dân tộc. Đọc bức thư hôm nay, ta vẫn học được bài học về sức mạnh của lí lẽ: thuyết phục người khác không phải bằng lời to tiếng, mà bằng sự hiểu biết, sự thật và lòng nhân ái.
Kết luận
Dàn ý và 5 bài mẫu phân tích Thư lại dụ Vương Thông trên giúp em tiếp cận văn bản từ nhiều hướng: phân tích toàn bài, nghệ thuật lập luận, đoạn sáu điều tất phải thua hay đánh giá tư tưởng nhân nghĩa. Khi viết, em nhớ bám vào mạch bốn phần của bức thư và chỉ trích dẫn những câu then chốt.
Xem thêm: