Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió là đề bài thường gặp khi học tản văn của Nguyễn Ngọc Tư ở Bài 2 sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức. Bài viết dưới đây gồm dàn ý chi tiết, 5 bài văn mẫu (có cả mẫu đoạn văn ngắn) và một số gợi ý mở bài, kết bài. Để nắm chắc văn bản trước khi viết, em có thể xem lại bài soạn bài Trở gió.
Điều quan trọng nhất của đề này là chỉ ra được những tình cảm cụ thể mà tác giả gửi gắm qua hình ảnh gió chướng: tâm trạng ngổn ngang trước thời gian, nỗi nhớ tuổi thơ, tình thương má và tình yêu quê hương miền Tây – rồi nêu được cảm xúc của chính em.
Dàn ý cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió
1. Mở bài
– Giới thiệu Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn của đất mũi Cà Mau với giọng văn mộc mạc, đậm chất Nam Bộ.
– Giới thiệu tản văn Trở gió và nêu khái quát: nỗi niềm gắn bó của nhà văn với gió chướng, với tuổi thơ và quê nhà.
2. Thân bài
a. Sự gắn bó, thân thiết với gió chướng
+ Gió được nhân hóa như người bạn cũ có hẹn mỗi năm; tác giả chủ động chờ, chuẩn bị chuông gió đón gió.
+ Những cảm nhận tinh tế khi gió về: rụt rè rồi dồn dập, vừa nồng nhiệt vừa dịu dàng.
⇒ Tình cảm gần gũi, trân trọng như với một người thân.
b. Tâm trạng ngổn ngang trước bước đi của thời gian
+ Gió về báo hiệu năm hết: tác giả buồn vì sắp thêm tuổi mà tay vẫn trắng.
+ Cảm giác mất mát mơ hồ, phải sống vội vàng.
⇒ Tâm hồn nhạy cảm, ý thức sâu sắc về thời gian và khát khao sống có ý nghĩa.
c. Nỗi nhớ tuổi thơ và tình thương má
+ Tuổi thơ nghèo: gió về là sắp được áo quần mới, gió chướng thành gió Tết.
+ Hình ảnh má hát câu hát buồn, thở dài lo cái Tết nghèo; rồi niềm vui khi lúa chín.
⇒ Tình yêu gia đình, sự thấu hiểu và thương má tảo tần.
d. Tình yêu quê hương miền Tây
+ Mùa gió là mùa thu hoạch: lúa, mía, vú sữa, dưa hấu.
+ Hai chữ gió chướng gợi cả một miền kí ức: rơm, con nước, tiếng chày quết bánh phồng, buổi sáng mát dịu.
+ Câu hỏi cuối bài về việc mua một mùa gió nơi xa.
⇒ Tình quê sâu nặng, gió chướng trở thành hình ảnh tượng trưng cho quê nhà, không gì thay thế.
e. Nghệ thuật thể hiện tình cảm
+ Nhân hóa, liệt kê, câu ngắn, câu đặc biệt; từ ngữ địa phương Nam Bộ.
+ Giọng văn vừa hóm hỉnh vừa sâu lắng.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị tình cảm của bài tản văn.
– Liên hệ: em thêm yêu những điều bình dị nơi quê hương mình.

Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió – mẫu 1 (đoạn văn ngắn)
Đọc Trở gió của Nguyễn Ngọc Tư, em cảm nhận được một tình yêu quê hương rất riêng, được gửi vào những cơn gió chướng tưởng chừng chẳng có gì đặc biệt. Tác giả chờ gió như chờ một người bạn cũ, đón gió với cảm xúc lẫn lộn: vui vì gió về, buồn vì năm sắp hết. Thế nhưng tác giả vẫn mong gió, bởi gió gắn với cái Tết tuổi thơ, với dáng má lo toan và với mùa lúa chín. Hễ ai nhắc đến gió chướng, cả miền quê lại hiện ra trong lòng người viết. Câu hỏi cuối bài khiến em nghẹn lòng: ở nơi xa, liệu có ai bán cho mình một mùa gió? Qua đó, em hiểu rằng quê hương là những điều bình dị mà khi xa rồi ta mới thấy quý giá vô cùng.
Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió – mẫu 2 (bài văn đầy đủ)
Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của miền đất cực Nam Tổ quốc. Trang văn của chị luôn thơm mùi bùn đất, mùi rơm rạ của miền Tây sông nước. Tản văn Trở gió là một trang như thế. Từ những cơn gió chướng thổi về mỗi độ cuối năm, tác giả đã bộc lộ những tình cảm chân thành, sâu sắc với thời gian, với gia đình và với quê hương.
Trước hết, em cảm nhận được sự gắn bó thân thiết giữa tác giả và gió chướng. Gió không chỉ là hiện tượng thời tiết mà như một người bạn cũ, mỗi năm hẹn gặp một lần nhưng không định ngày. Tác giả kể mình bắt đầu chờ từ tháng Chín, có khi chờ lâu đến quên mất, để rồi một sáng bỗng nghe gió rất gần. Cách miêu tả gió ban đầu e dè, như sợ người xưa đã quên mình, rồi mừng rỡ khi thấy mình vẫn được nhớ, cho thấy một tâm hồn biết lắng nghe và yêu thương cả những điều vô hình.
Nhưng gió về cũng mang theo nỗi buồn. Tác giả thú nhận mình đón gió với tâm trạng lộn xộn, mừng đó rồi bực đó. Gió báo hiệu một năm sắp qua; đứng quét sân giữa gió, tác giả lo mình lại già thêm một tuổi mà vẫn chưa làm được điều gì. Em rất đồng cảm với nỗi lo ấy. Nó cho thấy người viết là người sống có trách nhiệm, luôn tự hỏi mình đã dùng thời gian thế nào.
Điều làm em xúc động nhất là những kỉ niệm tuổi thơ gắn với gió. Hồi nhỏ, nhà nghèo, cả năm chỉ có dịp Tết mới được sắm đồ mới, nên khi gió bắt đầu se lạnh là lũ trẻ háo hức vỗ tay. Gió chướng với tác giả là gió Tết. Người má cũng nghe gió mà nhớ Tết, nhưng nỗi lo của má khác con: má thở dài vì sợ không lo nổi cái Tết cho cả nhà. Chỉ bằng vài câu, Nguyễn Ngọc Tư đã vẽ ra hình ảnh một người mẹ nông thôn tần tảo, và tình thương má của người con thấm vào từng chữ. Rồi khi lúa chín, mùi rơm thơm khắp đồng, nỗi lo của má tan đi – em thấy như mình cũng nhẹ nhõm theo.
Tình cảm lớn nhất mà tác giả gửi gắm là tình yêu quê hương. Tác giả khẳng định: “Đáng chờ đợi lắm, vì mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch.” Mía ngọt nặng tay, vú sữa chín lúc lỉu, dưa hấu đầy ruộng – miền Tây hiện lên trù phú, ấm no. Đặc biệt, tác giả tưởng tượng một ngày đi xa, chỉ cần nghe ai nhắc hai chữ gió chướng là sẽ nhớ quê đến ngẩn ngơ. Hàng loạt hình ảnh được liệt kê liền nhau như những thước phim: rơm vướng trên nhánh me, con nước rong lém bờ, má giê lúa, tiếng chày quết bánh phồng… Câu kết như một tiếng thở dài: ở nơi xa có đủ thứ hàng Tết, nhưng “có ai bán một mùa gió cho tôi?”
Để nói những tình cảm ấy, tác giả dùng giọng văn rất riêng: mộc mạc, đậm chất Nam Bộ với những từ như má, thiệt, lãng nhách; câu văn có lúc chỉ một hai chữ, có lúc dài như hơi gió. Nhờ vậy, cảm xúc trong bài vừa chân thật vừa có sức lan tỏa.
Trở gió giúp em hiểu rằng tình yêu quê hương đôi khi bắt đầu từ một cơn gió, một mùa lúa, một câu hát của mẹ. Em thấy mình cần trân trọng hơn những điều bình dị nơi quê nhà, để sau này dù đi đâu cũng có một “mùa gió” để nhớ về.
Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió – mẫu 3 (tập trung nỗi nhớ quê)
Có những nỗi nhớ không gọi thành tên, chỉ cần một tín hiệu nhỏ là trỗi dậy. Với Nguyễn Ngọc Tư, tín hiệu ấy là gió chướng. Tản văn Trở gió là bức thư tình chị gửi cho quê hương miền Tây, mà người đưa thư chính là những cơn gió cuối năm.
Gió chướng trong bài trước hết là gió của tuổi thơ. Nhà văn nhớ đám trẻ nhảy cẫng lên khi gió hiu hiu lạnh, vì gió về là sắp có áo quần mới. Với những đứa trẻ nhà nghèo, đó là niềm vui lớn nhất trong năm. Vì thế, dù từ lúc có gió đến Tết còn những ba tháng, gió vẫn được gọi là gió Tết. Em hiểu rằng, khi người lớn nhớ một cơn gió, họ đang nhớ chính tuổi thơ hồn nhiên của mình.
Gió chướng còn là gió của mẹ. Hình ảnh má nghe gió, buột miệng hát một câu buồn rồi thở dài lo năm hết làm em nhớ đến mẹ mình mỗi dịp cuối năm. Tác giả không kể lể nhiều, chỉ một câu má tánh lo xa, rồi chuyển sang cảnh lúa chín làm nỗi lo của má tan như sương. Cái tài của nhà văn là để tình thương má hiện lên qua chính sự đổi thay trên gương mặt người mẹ.
Và hơn hết, gió chướng là gió của quê hương. Tác giả biết rằng mình có thể đi xa, xa cả những mùa gió. Nhưng chỉ cần nghe hai chữ ấy, mọi hình ảnh quê sẽ lũ lượt kéo về: những giồng bạc hà, buồng cau chín, trấu bay về cuối gió, buổi sáng nắng thức muộn. Câu hỏi cuối bài về một mùa gió không ai bán được chính là lời khẳng định: quê hương là duy nhất, không thể mua, không thể thay thế.
Đọc Trở gió, em chợt nghĩ đến những mùa của quê mình – mùa gặt, mùa nước, mùa hoa – và thấy thương chúng hơn. Có lẽ đó chính là món quà lớn nhất mà bài tản văn trao cho người đọc.
Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió – mẫu 4 (tập trung tâm trạng trước thời gian)
Người ta thường viết về gió chướng như một nét đặc trưng của khí hậu Nam Bộ. Nguyễn Ngọc Tư thì khác: chị viết về gió như viết về thời gian, về chính mình đang lớn lên và già đi. Đọc Trở gió, em bất ngờ khi thấy một cơn gió có thể chứa nhiều tâm trạng đến thế.
Tâm trạng đầu tiên là sự háo hức. Tác giả chờ gió, chuẩn bị đón gió, và khi gió về thì reo lên như gặp lại người thân. Những câu văn ngắn liên tiếp như nhịp tim đập nhanh: gió cồn cào, nồng nhiệt mà vẫn dịu dàng. Em có cảm giác tác giả vẫn còn giữ nguyên tâm hồn đứa trẻ ngày nào.
Ngay sau đó là nỗi buồn. Gió về báo hiệu năm sắp hết, và tác giả lo sợ: mình sắp già thêm một tuổi mà chưa kịp sống gì, tay vẫn trắng như vầy. Mỗi mùa gió đi qua để lại cảm giác như vừa đánh mất một điều không rõ, như có ai đuổi sau lưng. Tác giả gấp gáp ăn, gấp gáp nói, gấp gáp cười. Điệp từ ấy khiến em thấy rõ nhịp sống vội vã của người lớn và nỗi bất an trước thời gian trôi.
Thế nhưng nỗi buồn không thắng được niềm mong. Tác giả vẫn chờ gió vì gió mang theo những điều đẹp đẽ: kí ức tuổi thơ, nụ cười của má khi lúa chín, cây trái ngọt lành. Đến đây em hiểu rằng tác giả không trốn chạy thời gian mà chọn cách sống cùng nó, trân trọng những gì mỗi mùa mang lại. Đó là một thái độ sống rất đẹp.
Bài tản văn khép lại bằng nỗi nhớ quê da diết của một người tưởng tượng mình đã đi xa. Từ những xao động rất riêng trước một mùa gió, Nguyễn Ngọc Tư đã nói hộ nhiều người cái cảm giác vừa sợ thời gian trôi vừa muốn níu giữ những gì thân thương. Em sẽ nhớ bài học ấy mỗi khi một năm sắp qua.
Cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió – mẫu 5 (học sinh giỏi)
Mỗi vùng đất có một thứ gió riêng làm nên nỗi nhớ: gió Lào bỏng rát miền Trung, gió mùa đông bắc buốt giá đất Bắc, và ở miền Tây Nam Bộ là gió chướng. Nguyễn Ngọc Tư đã biến thứ gió quen thuộc ấy thành nhân vật chính trong tản văn Trở gió. Qua những trang văn ngắn, người đọc nhận ra một tình cảm nhiều tầng bậc: gắn bó với thiên nhiên, trăn trở trước thời gian, yêu thương gia đình và thiết tha với quê hương.
Tầng đầu tiên là tình bạn với gió. Tác giả viết về cuộc hẹn không rõ ràng giữa mình và gió, kể việc dời chuông gió ra cửa phía Đông, kể cả lúc chờ đến quên. Gió có hơi thở, có sự e dè, có niềm vui khi được nhớ tới. Nhân hóa ở đây không chỉ là biện pháp tu từ mà là cách người viết sống với thiên nhiên: xem cơn gió như một sinh thể có tâm hồn. Chính sự trìu mến ấy làm em thấy gió chướng trở nên đáng yêu lạ lùng.
Tầng thứ hai là nỗi trăn trở trước thời gian. Gió chướng là chiếc đồng hồ của đất trời, mỗi lần điểm là một năm sắp khép lại. Tác giả buồn vì “tay mình vẫn trắng”, vì cảm giác bị một điều gì đó đuổi theo sau lưng. Cái buồn ấy không bi lụy mà rất thật, rất người. Nó cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, luôn đặt câu hỏi về ý nghĩa của những ngày mình đã sống.
Tầng thứ ba là tình yêu gia đình. Tuổi thơ nghèo khó hiện lên qua niềm vui đơn sơ của lũ trẻ mong áo mới. Người má hiện lên qua câu hát buồn và tiếng thở dài lo Tết. Nguyễn Ngọc Tư đặt hai tâm trạng cạnh nhau: con vui vì Tết, mẹ lo vì Tết. Sự đối lập nhẹ nhàng ấy chứa đựng biết bao thấu hiểu và biết ơn của người con khi đã lớn. Rồi tác giả để mùi rơm, màu lúa chín xóa đi nỗi lo của má, như muốn nói rằng đất đai quê hương luôn bao bọc con người.
Tầng sâu nhất là tình yêu quê hương. Mùa gió chướng được khẳng định là mùa thu hoạch, mùa của những liếp mía già, những trái vú sữa căng bóng, những ruộng dưa hấu. Rồi nỗi nhớ quê được đẩy lên cao trào khi tác giả tưởng tượng mình ở nơi rất xa: chỉ một tiếng gọi tên gió là kí ức ùa về, dồn dập trong một chuỗi liệt kê dài. Câu hỏi khép lại bài văn vừa hóm hỉnh vừa xót xa: nơi xa có thể bán đủ thứ cho ngày Tết, nhưng một mùa gió thì không ai bán được. Quê hương, vì thế, là thứ duy nhất không thể mua, chỉ có thể mang theo trong lòng.
Tất cả những tình cảm ấy được nói bằng giọng văn đặc trưng của Nguyễn Ngọc Tư: từ ngữ Nam Bộ mộc mạc, câu văn lúc ngắn lúc dài theo nhịp cảm xúc, giọng kể vừa tưng tửng vừa thấm thía. Không cần lời lẽ hoa mĩ, bài tản văn vẫn chạm đến trái tim người đọc.
Gấp trang sách, em nhận ra mỗi người đều có một “mùa gió” của riêng mình – một mùa, một mùi hương, một âm thanh gắn với quê nhà. Trở gió nhắc em biết trân trọng những điều ấy khi còn được sống giữa chúng, và biết giữ chúng thật lâu trong kí ức.
Gợi ý mở bài và kết bài cho đề cảm nhận Trở gió
Mở bài trực tiếp: Tản văn Trở gió của Nguyễn Ngọc Tư đã để lại trong em nhiều xúc động bởi tình cảm chân thành mà tác giả dành cho mùa gió chướng, cho tuổi thơ, cho má và cho quê hương miền Tây.
Mở bài gián tiếp: Ai trong chúng ta cũng có một thứ gắn với quê nhà mà chỉ cần nghĩ tới là lòng xao xuyến. Với Nguyễn Ngọc Tư, đó là gió chướng – và tản văn Trở gió chính là nơi chị gửi gắm nỗi niềm ấy.
Kết bài: Qua Trở gió, em hiểu thêm về một tâm hồn yêu quê tha thiết. Bài tản văn khiến em muốn lắng nghe kĩ hơn những âm thanh, mùi vị của quê hương mình.
Kết luận
Để viết tốt đề cảm nhận về tình cảm của tác giả trong Trở gió, em nên chia bài theo từng loại tình cảm (với gió, với thời gian, với gia đình, với quê hương), mỗi ý có dẫn chứng ngắn từ văn bản và lời nhận xét của em. Hạn chế chép lại nguyên văn đoạn dài; hãy diễn đạt bằng lời của mình.
Xem thêm: