Trở gió là tản văn của Nguyễn Ngọc Tư viết về mùa gió chướng ở Nam Bộ – thứ gió báo hiệu cuối năm, gợi trong lòng tác giả bao cảm xúc ngổn ngang và nỗi nhớ quê nhà. Văn bản được học ở Bài 2 (Khúc nhạc tâm hồn) sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức (tập một). Bài viết dưới đây tổng hợp thông tin tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy để em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Trở gió
Văn bản là dòng tâm sự của nhân vật “tôi” mỗi khi gió chướng trở về. Tác giả coi gió như một người bạn cũ có hẹn mà không hẹn ngày: cứ qua tháng Chín, “tôi” lại mang cái chuông gió ra treo ở ô cửa hướng Đông mà đợi. Rồi một sớm mai, gió đến, ban đầu khẽ khàng, ngập ngừng, sau đó ào ạt, xốc cả tấm tôn bên chái nhà. Tác giả kêu lên: “Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà thiệt dịu dàng. Ôi! Gió chướng.”

Gió về khiến “tôi” vừa mừng vừa bực, vừa buồn vì thấy một năm sắp hết mà mình chưa làm được gì, vừa thấy phải vội vàng hơn trong mọi việc. Thế nhưng “tôi” vẫn mong gió, bởi thói quen chờ đợi đã có từ thuở nhỏ: gió đến là sắp có áo quần, đôi dép mới. Với “tôi”, gió chướng là gió Tết. Người má lam lũ cũng nghe gió mà lo cái Tết nghèo, nhưng rồi lúa chín, mùa màng bội thu làm nỗi lo tan biến; mía ngọt, vú sữa chín, dưa hấu đầy đồng.
Phần cuối, “tôi” nói rằng chỉ cần nghe hai chữ “gió chướng” là cả một miền quê hiện về: rơm vướng nhánh me, con nước rong, má giê lúa, tiếng chày quết bánh phồng, buổi sáng nắng lên muộn và mát dịu. Văn bản khép lại bằng một câu hỏi đầy thương nhớ của người ở nơi xa: liệu ở đó “có ai bán một mùa gió cho tôi?” Phần hướng dẫn đọc hiểu theo sách giáo khoa có ở bài soạn bài Trở gió.
Thông tin tác giả Nguyễn Ngọc Tư
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, lớn lên ở vùng quê Đầm Dơi (Cà Mau) trong một nhà nông. Học xong cấp hai, chị thôi học rồi đến với công việc viết lách, làm công tác văn nghệ ở Cà Mau. Chị là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam và là một trong những cây bút được yêu thích nhất của văn học đương đại.
Chị viết truyện ngắn, tản văn, tạp văn lẫn tiểu thuyết. Tập truyện Ngọn đèn không tắt ra mắt năm 2000 đưa tên tuổi chị đến với bạn đọc; sau đó là Cánh đồng bất tận, Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (cùng in năm 2005), rồi Không ai qua sông, tiểu thuyết Biên sử nước… Truyện Cánh đồng bất tận từng được Hội Nhà văn Việt Nam trao giải năm 2006 và được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Văn Nguyễn Ngọc Tư mộc mạc, đậm chất Nam Bộ, dùng nhiều từ ngữ địa phương; đằng sau giọng kể tưởng như bông đùa là một tâm hồn nhạy cảm, giàu yêu thương với những phận người nhỏ bé nơi sông nước miền Tây. Em có thể đọc thêm bài những tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư và văn bản Mùa phơi sân trước cũng của chị.
Thông tin tác phẩm Trở gió
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi học văn bản.
Xuất xứ văn bản
Trở gió in trong tập Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005). Sách giáo khoa trích phần lớn bài viết, có lược bớt một đoạn ở gần cuối (đánh dấu bằng dấu […]).
Hoàn cảnh sáng tác
Bài viết ra đời từ trải nghiệm của chính tác giả – một người con miền Tây Nam Bộ lớn lên cùng những mùa gió chướng. Gió chướng là cách người Nam Bộ gọi gió mùa đông bắc, thường thổi mạnh từ khoảng cuối năm, báo hiệu Tết sắp đến và cũng là mùa lúa chín. Từ một hiện tượng thời tiết quen thuộc, tác giả viết về thời gian, tuổi thơ, gia đình và tình quê.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: tản văn (in trong tập tạp văn).
- Phương thức biểu đạt: biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả.
- Người kể: nhân vật “tôi” – chính tác giả, trực tiếp bày tỏ cảm xúc.
Trở gió có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm hai phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “bắt đầu rụng xuống”): khoảnh khắc gió chướng trở về và tâm trạng ngổn ngang, lộn xộn của “tôi”.
- Phần 2 (còn lại): vì sao “tôi” vẫn mong gió chướng – gió gắn với tuổi thơ, với Tết, với mùa thu hoạch và với nỗi nhớ quê nhà.
Giá trị nội dung
Qua những cơn gió chướng, Nguyễn Ngọc Tư thể hiện cảm nhận tinh tế về bước đi của thời gian: mỗi mùa gió về là một năm sắp hết, khiến con người vừa xao xuyến vừa lo âu. Đồng thời, gió chướng gắn với những kỉ niệm tuổi thơ, hình ảnh người má, mùa màng và cảnh sắc miền Tây, nên trở thành biểu tượng của quê hương. Văn bản bộc lộ tình yêu, nỗi nhớ quê nhà sâu nặng của tác giả.
Giá trị nghệ thuật
- Nhân hóa gió chướng như một người bạn cũ, có hẹn, có hơi thở, biết mừng rỡ.
- Câu văn linh hoạt: có câu rất ngắn, câu đặc biệt tạo nhịp, có câu dài liệt kê hình ảnh dồn dập.
- Sử dụng nhiều từ ngữ địa phương Nam Bộ (má, thiệt, lãng nhách, ui chao…) tạo giọng văn mộc mạc, gần gũi.
- Cảm nhận bằng nhiều giác quan: âm thanh chuông gió, mùi rơm, vị mía, màu vú sữa.
- Kết hợp tự sự, miêu tả với biểu cảm; giọng văn vừa hóm hỉnh vừa sâu lắng.
Ý nghĩa nhan đề Trở gió
“Trở gió” nghĩa là gió đổi mùa, chuyển hướng. Nhan đề gọi đúng thời khắc gió chướng quay về, cũng là thời khắc lòng người “trở” theo: từ vui sang buồn, từ hiện tại về kỉ niệm. Hai chữ ngắn gọn gói cả sự đổi thay của đất trời và những xao động trong tâm hồn tác giả.
Sơ đồ tư duy Trở gió
Sơ đồ dưới đây giúp em nhớ nhanh các ý chính.

Tóm tắt Trở gió
Mẫu 1 – Tóm tắt Trở gió ngắn nhất
Mỗi năm, khi gió chướng trở về, nhân vật “tôi” mang tâm trạng ngổn ngang: vừa mừng vì gió đến, vừa buồn vì một năm sắp qua. Dù vậy, “tôi” vẫn mong gió, bởi gió chướng là gió Tết của tuổi thơ, là mùa lúa chín và là hình ảnh không thể quên của quê nhà.
Mẫu 2 – Tóm tắt Trở gió đầy đủ
Tháng Chín vừa sang, “tôi” đã chuyển cái chuông gió về phía ô cửa đón gió để chờ. Một sớm, gió đến, rụt rè rồi ào ạt. Gió về khiến “tôi” bồn chồn: buồn vì sắp già thêm một tuổi mà tay vẫn trắng, nên ăn nói, cười đùa đều vội vàng. Nhưng “tôi” vẫn trông gió, bởi từ nhỏ gió chướng đã gắn với Tết, với quần áo mới. Má nghe gió thì lo năm hết mà nhà nghèo, nhưng gió cũng là lúc lúa chín, mía ngọt, vú sữa, dưa hấu đầy vườn. Với một người viết văn, hai tiếng ấy đủ gọi về cả miền quê, và nếu phải đi xa, “tôi” chẳng biết tìm đâu một mùa gió như thế.
Lời kết
Trở gió là trang tản văn giàu cảm xúc, tiêu biểu cho giọng văn mộc mạc mà tinh tế của Nguyễn Ngọc Tư. Hiểu rõ bố cục, nội dung và nét đặc sắc nghệ thuật sẽ giúp em viết tốt đoạn văn cảm nhận về văn bản và tấm lòng gắn bó với quê nhà của tác giả.
Xem thêm: