Tản văn là loại văn xuôi ngắn, viết tự do, thường lấy một chuyện nhỏ của đời sống (một món ăn, một góc phố, một mùa) làm cớ để người viết bày tỏ cảm xúc và suy nghĩ riêng. Tản văn không cần cốt truyện hay nhân vật hoàn chỉnh như truyện ngắn; cái giữ người đọc lại là giọng văn và cái tôi của tác giả. Ở nghĩa cũ, rộng hơn, tản văn chỉ đơn giản là văn xuôi.
| Khái niệm | Văn xuôi ngắn, tự do, kết hợp tự sự, trữ tình, miêu tả, nghị luận; đậm cái tôi người viết |
| Nghĩa cũ | Văn xuôi nói chung, đối lập với văn vần |
| Thuộc | Loại kí, cùng nhóm với tùy bút, bút kí, tạp văn |
| Dấu hiệu nhận biết | Ngắn; không có cốt truyện chặt; người viết xưng “tôi”; chuyện nhỏ dẫn tới suy ngẫm lớn |
| Học ở | Ngữ văn 7 (tùy bút, tản văn) và Ngữ văn 11 |

Tản văn trong từ điển và trong sách Ngữ văn
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi hai nghĩa cho tản văn. Nghĩa cũ là văn xuôi. Nghĩa thứ hai, hẹp hơn, là loại văn xuôi gồm các thể kí và những thể văn khác ngoài truyện, thơ, kịch, thường không theo một khuôn khổ nào. Wiktionary tiếng Việt cũng ghi nghĩa “văn xuôi” kèm nhãn từ cũ.
Sách Ngữ văn 7 cụ thể hơn. Theo phần kiến thức trong sách, tản văn được mô tả là những trang văn xuôi ít chữ mà nhiều ý; người viết có thể kể, tả, bàn luận hay bộc lộ cảm xúc, chỉ phác vài nét về đời sống chứ không dựng cả một cốt truyện, bù lại phải có cấu tứ và giọng văn của riêng mình. Nói đơn giản: tản văn viết về cái thật, viết ngắn, và viết bằng giọng của chính người viết.
Chữ tản (散) trong Hán Việt có nghĩa là rời rạc, tản mác, không bó buộc, như trong tản mạn, tản cư, phân tản; chữ văn (文) là văn chương. Tên gọi đã nói luôn tính chất: lối văn thả lỏng, không theo khuôn. Trong tiếng Trung, 散文 cũng là từ chỉ văn xuôi, đối lập với văn vần.
Năm điều làm nên một bài tản văn
- Ngắn và tập trung. Một bài tản văn thường chỉ vài trang, xoay quanh một đối tượng: chiếc lá, bát cơm hến, cơn mưa đầu mùa.
- Chuyện thật, việc thật. Tản văn thuộc loại kí nên dựa trên điều người viết đã thấy, đã sống, không bịa ra cả một câu chuyện như truyện ngắn.
- Cái tôi hiện rõ. Người viết thường xưng “tôi”, bày tỏ thẳng cảm xúc, nêu nhận xét riêng, có khi kể cả kỉ niệm của mình.
- Kết cấu tự do. Mạch bài đi theo liên tưởng: từ một món ăn nghĩ đến người bán, đến thói quen của cả một vùng đất. Không có mở đầu, cao trào, kết thúc kiểu truyện.
- Kết hợp nhiều phương thức. Một đoạn tả, một đoạn kể, một câu bàn luận, một câu bộc lộ cảm xúc có thể đứng sát nhau. Các phương thức này được giải thích trong bài sáu cách biểu đạt trong một văn bản.
Nắm năm đặc điểm của tản văn ở trên rồi, dấu hiệu dễ thấy nhất khi đọc đề là: một đoạn trích văn xuôi, có người xưng “tôi”, không có nhân vật nào hành động theo một chuỗi sự kiện, và đoạn văn chủ yếu là cảm nghĩ về một sự vật quen thuộc. Khả năng cao đó là tản văn hoặc tùy bút.
Tản văn, tùy bút, bút kí, tạp văn: bốn thể văn họ hàng
Cả bốn đều thuộc loại kí, đều viết về người thật việc thật, nên ranh giới giữa chúng không tuyệt đối. Bảng dưới đây dựa trên cách giảng của Từ điển tiếng Việt và sách Ngữ văn:
| Thể | Trọng tâm | Giọng điệu |
|---|---|---|
| Tản văn | Một chuyện nhỏ của đời sống, kể và cảm nhẹ nhàng; dùng khá nhiều yếu tố tự sự | Thủ thỉ, như lời trò chuyện |
| Tùy bút | Cảm nghĩ của người viết là chính, theo dòng liên tưởng tự do; đậm chất trữ tình | Bay bổng, phóng túng, giàu chất thơ |
| Bút kí | Ghi điều tai nghe mắt thấy ở một nơi, một sự kiện, kèm nhận xét, cảm xúc | Ghi chép, nhiều thông tin thực tế |
| Tạp văn | Bàn luận ngắn về một hiện tượng xã hội, văn hóa; Từ điển xếp tạp văn là một loại tản văn | Sắc, thường châm biếm, phê phán |
Có nhà nghiên cứu coi tản văn là khái niệm rộng, bao gồm cả tùy bút; sách Ngữ văn 7 thì giới thiệu hai thể song song và lưu ý tùy bút nghiêng về trữ tình, còn tản văn thì phần kể chuyện nhiều hơn. Khi làm bài, cứ gọi theo đúng tên mà sách hoặc đề bài dùng cho văn bản đó.
Những tản văn quen thuộc trong nhà trường
Chuyện cơm hến của Hoàng Phủ Ngọc Tường
Bài viết bắt đầu từ một món ăn bình dân của Huế, rồi đi xa hơn: nói về khẩu vị, về sự “bảo thủ” đáng yêu của người Huế trong chuyện ăn uống, về những gánh hàng rong. Từ một bát cơm, người đọc thấy cả nếp sống của một vùng đất. Đó đúng là cách tản văn làm việc: chuyện nhỏ làm cớ, suy ngẫm mới là đích. Văn bản này học ở Ngữ văn 7 Kết nối tri thức; câu hỏi đọc hiểu được giải ở bài soạn văn bản về món cơm hến xứ Huế.
Cõi lá của Đỗ Phấn
Văn bản in trong tập tản văn về Hà Nội của Đỗ Phấn, học ở Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo. Đối tượng chỉ là những tán lá trên phố, nhưng người viết lần theo chúng qua các mùa và qua cách người thành phố sống cạnh cây xanh. Bài hợp để luyện cách chỉ ra cái tôi quan sát tinh tế trong tản văn; thông tin về văn bản xem ở trang tác giả và nội dung bài Cõi lá.
Thạch Lam và những trang về Hà Nội
Thạch Lam để lại tập Hà Nội băm sáu phố phường, viết về quà bánh, phố xá, thói quen của người Hà Nội xưa. Sách thường xếp những trang này vào tùy bút, nhưng nhìn từ góc thể loại thì chúng chung một gốc với tản văn: viết ngắn, viết thật, viết bằng giọng riêng. Bài Một thứ quà của lúa non: Cốm là ví dụ hay được dạy. Danh mục sáng tác của nhà văn có ở trang truyện ngắn, tùy bút tiêu biểu của Thạch Lam.
Luyện nhận biết tản văn
Câu 1: Đoạn sau thuộc thể loại nào? Vì sao? “Sáng nào tôi cũng đi qua gánh xôi đầu ngõ. Bà bán xôi không nhớ tên tôi, chỉ nhớ tôi ăn ít hành phi. Có những thân quen không cần tên gọi, chỉ cần một thói quen nhỏ được người khác nhớ giùm.”
Đáp án: Tản văn. Đoạn văn xuôi ngắn, người viết xưng “tôi”, kể một chuyện thật rất nhỏ (gánh xôi đầu ngõ) rồi rút ra một suy ngẫm về sự thân quen. Không có cốt truyện hay xung đột như truyện ngắn.
Câu 2: Tản văn khác truyện ngắn ở những điểm nào?
Đáp án: Truyện ngắn có cốt truyện, nhân vật, sự kiện do nhà văn hư cấu. Tản văn viết về người thật, việc thật, không cần cốt truyện; trọng tâm là cảm xúc, suy nghĩ của người viết. Truyện ngắn thường kể qua người kể chuyện; tản văn thường là “tôi” của chính tác giả.
Câu 3: Chỉ ra yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong đoạn ở Câu 1.
Đáp án: Tự sự: việc “tôi” đi qua gánh xôi mỗi sáng, bà bán xôi nhớ “tôi” ăn ít hành phi. Trữ tình: câu cuối bộc lộ cảm xúc ấm áp và nhận xét riêng của người viết về sự thân quen giữa người với người.
Câu 4: Vì sao Từ điển tiếng Việt xếp tạp văn là một loại tản văn?
Đáp án: Vì tạp văn cũng là văn xuôi ngắn, hình thức không gò bó, viết về hiện tượng có thật. Điểm riêng của tạp văn là thiên về bình luận, phê phán, nên giọng văn sắc và có tính thời sự hơn tản văn thông thường.
Băn khoăn của học sinh khi học tản văn
Tản văn có phải là tùy bút không?
Không hoàn toàn. Hai thể rất gần nhau và đều thuộc loại kí. Tùy bút thả cảm xúc, liên tưởng phóng túng hơn và giàu chất thơ; tản văn thường kể nhiều hơn, giọng nhẹ và gần lời trò chuyện. Nhiều văn bản nằm giữa hai thể, nên khi làm bài cứ theo tên gọi mà sách dùng.
Tản văn có cốt truyện không?
Thường là không, hoặc chỉ có vài sự việc rời rạc làm điểm tựa. Mạch của tản văn là dòng cảm nghĩ của người viết chứ không phải chuỗi sự kiện có cao trào.
Tản văn là gì trong tiếng Anh?
Thường dịch là essay, chính xác hơn là personal essay hoặc familiar essay cho lối viết tâm tình. Nghĩa cũ “văn xuôi” thì dịch là prose.
Viết tản văn cần chú ý gì?
Chọn một đối tượng nhỏ và thật mà mình có kỉ niệm; quan sát kĩ để có chi tiết riêng; để cảm xúc dẫn mạch; kết bằng một suy nghĩ đọng lại. Tránh kể lan man nhiều chuyện không liên quan và tránh những câu cảm thán sáo rỗng.