Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích là đoạn dẫn vào bài nghị luận về đoạn trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, văn bản đọc ở sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (Bài 3) và Cánh diều (Bài 2). Một mở bài tốt cần giới thiệu tác giả, vị trí hai mươi hai câu thơ và vấn đề đề bài đặt ra, thường là nỗi cô đơn, nỗi nhớ của Thúy Kiều hoặc bút pháp tả cảnh ngụ tình. Dưới đây là 14 mẫu mở bài viết sẵn, chia theo nhóm trực tiếp, gián tiếp, theo đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích
- Nêu một nét tiêu biểu của Nguyễn Du (đại thi hào, bậc thầy miêu tả nội tâm) rồi chuyển ngay sang Truyện Kiều, không kể lan man tiểu sử.
- Xác định vị trí: đoạn trích có 22 dòng thơ, bắt đầu ở câu 1033 và dừng ở câu 1054, thuộc phần Gia biến và lưu lạc, khi Kiều bị Tú Bà đưa ra giam lỏng.
- Câu cuối phải trúng đề: đề 6 câu đầu nói về cảnh ngộ cô đơn; đề 8 câu giữa nói về nỗi nhớ Kim Trọng và cha mẹ; đề 8 câu cuối nói về tâm trạng qua điệp ngữ “buồn trông”.
- Trích thơ theo bản trong SGK (ví dụ “nội cỏ rầu rầu”, “gió cuốn mặt duềnh”), tránh chép theo các dị bản khác.
- Muốn dẫn nhận định của nhà phê bình mà không nhớ chính xác nguyên văn thì nên diễn ý, không đặt trong ngoặc kép.
Mở bài trực tiếp Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mẫu 1 – ngắn gọn
Kiều ở lầu Ngưng Bích thuộc số những đoạn thơ thấm đẫm nỗi buồn nhất của Truyện Kiều, kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du. Chỉ trong hai mươi hai câu lục bát, nhà thơ đã cho người đọc thấy cảnh ngộ trơ trọi của Thúy Kiều nơi đất khách, nỗi nhớ thương người yêu, cha mẹ và những linh cảm lo lắng cho ngày mai. Đây cũng là đoạn trích tiêu biểu cho tài tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du.
Mẫu 2 – giới thiệu đầy đủ tác giả, tác phẩm, đoạn trích
Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông là nhà thơ lớn nhất của văn học trung đại Việt Nam và để lại kiệt tác Truyện Kiều, còn gọi là Đoạn trường tân thanh, gồm 3.254 câu lục bát viết bằng chữ Nôm. Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du đã sáng tạo nên một tác phẩm thấm đẫm tình thương con người. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, từ câu 1033 đến câu 1054, nằm ở phần Gia biến và lưu lạc. Biết mình đã sa vào chốn lầu xanh, Kiều rút dao toan tự vẫn; Tú Bà bèn hứa hẹn, đưa nàng ra ở riêng nơi lầu Ngưng Bích để chờ mưu mới. Đoạn thơ khắc họa nỗi cô đơn, tủi nhục của Thúy Kiều trong những ngày bị giam lỏng, đồng thời làm sáng lên lòng chung thủy và đức hiếu thảo của nàng.
Mở bài gián tiếp Kiều ở lầu Ngưng Bích
Mẫu 3 – từ cảm hứng nhân đạo về thân phận người phụ nữ
Văn chương thời trung đại có không ít trang viết dành cho người phụ nữ, nhưng hiếm ai thương họ sâu sắc như Nguyễn Du. Chính ông đã thốt lên trong Truyện Kiều: “Đau đớn thay phận đàn bà!”. Tiếng kêu ấy vang lên từ đầu tác phẩm và theo suốt hành trình của Thúy Kiều, người con gái sắc tài vẹn toàn mà phải chịu mười lăm năm lưu lạc. Một trong những chặng dừng đau xót đầu tiên của nàng là lầu Ngưng Bích. Qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du đã dõi theo từng nỗi niềm của nhân vật: nỗi cô đơn giữa không gian hoang vắng, nỗi nhớ người yêu, nỗi xót cha mẹ và nỗi sợ hãi trước tương lai mờ mịt.
Mẫu 4 – từ quan niệm cảnh và người trong Truyện Kiều
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du có hai câu thơ nói rõ cách ông nhìn thiên nhiên: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Với ông, cảnh vật không đứng ngoài con người mà luôn mang màu tâm trạng của người ngắm nó. Quan niệm ấy được thể hiện rõ hơn cả trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Từ non xa, trăng gần, cồn cát đến cánh buồm, hoa trôi, nội cỏ, tiếng sóng, mọi hình ảnh đều được nhìn qua đôi mắt đẫm buồn của Thúy Kiều. Đọc đoạn thơ, người đọc hiểu được thân phận cô đơn, bơ vơ và tấm lòng giàu yêu thương của nàng.
Mẫu 5 – từ hành trình lưu lạc của Thúy Kiều
Đêm trao duyên cho Thúy Vân đã khép lại quãng đời êm ấm của Thúy Kiều và mở ra mười lăm năm lưu lạc. Theo Mã Giám Sinh rời quê, nàng sớm nhận ra mình đã rơi vào tay bọn buôn người. Không chịu nhục, Kiều toan tìm đến cái chết; Tú Bà sợ mất vốn nên vờ hứa gả nàng cho người tử tế, rồi đem nàng ra ở một mình trên lầu Ngưng Bích. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du ghi lại chính những ngày ấy. Một mình giữa bốn bề hoang vắng, Thúy Kiều đối diện với nỗi cô đơn tột cùng, với nỗi nhớ thương da diết và những linh cảm chẳng lành về số phận.
Mẫu 6 – từ hình ảnh “khóa xuân”
Chỉ một câu mở đầu, Nguyễn Du đã nói hết cảnh ngộ của nhân vật: “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân”. Hai chữ khóa xuân nghe qua tưởng nhẹ nhàng, kín đáo, nhưng thực chất lại chứa đựng nỗi xót xa: tuổi xuân của Thúy Kiều đang bị giam hãm trong tay mụ chủ lầu xanh. Từ hình ảnh ấy, đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích mở ra một không gian mênh mông mà tù túng, một thời gian lặp lại đến mỏi mòn và một tâm hồn đầy thương nhớ. Qua đó, Nguyễn Du thể hiện tài miêu tả nội tâm và niềm cảm thông sâu sắc với con người.
Mẫu 7 – từ lời bình của Mộng Liên Đường chủ nhân (diễn ý)
Trong bài tựa viết cho Truyện Kiều, Mộng Liên Đường chủ nhân từng khen ngòi bút Nguyễn Du viết như thấm cả máu và nước mắt, khiến người đọc phải xót xa, ngậm ngùi. Lời khen ấy có thể kiểm chứng ở nhiều đoạn, nhưng rõ nhất có lẽ là đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Không có tiếng khóc thành lời, không có biến cố dồn dập, đoạn thơ chỉ có một người con gái ngồi trên lầu cao, nhìn ra bốn phía và nghĩ về những người thân yêu. Vậy mà từng câu thơ vẫn khiến người đọc nghẹn lòng trước cảnh ngộ của Thúy Kiều và tấm lòng nhân hậu của nàng.
Mẫu 8 – so sánh với đoạn trích Cảnh ngày xuân
Cùng viết về mùa xuân và màu xanh của cỏ, nhưng hai đoạn trích Cảnh ngày xuân và Kiều ở lầu Ngưng Bích của Nguyễn Du lại mang hai sắc điệu trái ngược. Ở Cảnh ngày xuân, “cỏ non xanh tận chân trời”, chị em Thúy Kiều vui bước du xuân giữa tiết Thanh minh. Đến lầu Ngưng Bích, tuổi xuân của Kiều đã bị khóa lại, màu xanh chỉ còn trải ra mờ mịt giữa chân mây mặt đất. Sự đổi thay ấy cho thấy số phận nàng đã rẽ sang một ngả đầy bất hạnh. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích vì thế là bức tranh xúc động về nỗi cô đơn, nỗi nhớ và nỗi lo âu của Thúy Kiều nơi đất khách.
Mẫu 9 – từ trình tự nỗi nhớ trong lòng Thúy Kiều
Một người con hiếu thảo đến mức bán mình chuộc cha, khi lâm vào cảnh khốn cùng, lẽ ra sẽ nghĩ tới cha mẹ trước tiên. Thế nhưng trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du lại để nàng nhớ tới Kim Trọng trước. Trình tự ấy không hề ngẫu nhiên: chữ hiếu Kiều đã phần nào báo đáp, còn lời thề với chàng Kim thì nàng đành dang dở, nên nỗi day dứt cứ trở đi trở lại. Chi tiết nhỏ cho thấy Nguyễn Du hiểu lòng nhân vật đến nhường nào. Đoạn trích là bức chân dung nội tâm cảm động của Thúy Kiều: cô đơn, buồn tủi mà vẫn thủy chung, hiếu thảo và luôn nghĩ cho người khác.
Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích 6 câu thơ đầu
Nguyễn Du thường không tả cảnh chỉ để ngắm cảnh, mà để cảnh nói thay nỗi lòng con người. Sáu câu thơ mở đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một minh chứng. Từ câu “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân” đến câu “Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”, nhà thơ đã dựng lên một không gian rộng mà vắng, những ngày tháng trôi qua đơn điệu, nhàm chán. Giữa khung cảnh ấy, Thúy Kiều hiện lên nhỏ bé, lẻ loi, với cảm giác tủi hổ, bẽ bàng trước chính số phận của mình.
Mẫu 11 – đề phân tích 8 câu thơ giữa
Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Nguyễn Du dành tám câu thơ ở giữa cho lời độc thoại của Thúy Kiều. Đó là lúc nỗi cô đơn hóa thành nỗi nhớ: nhớ đêm thề nguyền dưới trăng cùng Kim Trọng, nhớ cha mẹ già tựa cửa ngóng tin con. Những câu thơ như “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” hay “Xót người tựa cửa hôm mai” đã cho thấy một Thúy Kiều thủy chung, hiếu thảo, quên cảnh khổ của mình để thương những người thân yêu. Phân tích tám câu thơ này, ta hiểu thêm vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật và tài miêu tả nội tâm của đại thi hào.
Mẫu 12 – đề phân tích 8 câu thơ cuối
Nếu phải chọn những câu thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc nhất của Truyện Kiều, nhiều người sẽ nghĩ ngay tới tám câu cuối đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Bốn lần điệp lại hai tiếng “buồn trông”, Nguyễn Du đưa người đọc đi qua bốn bức tranh: cửa bể chiều hôm, ngọn nước mới sa, nội cỏ rầu rầu và gió cuốn mặt duềnh. Mỗi bức tranh là một nỗi buồn, nỗi sau nặng hơn nỗi trước, để rồi khép lại bằng tiếng sóng ầm ầm như báo trước những tai họa đang chờ Thúy Kiều phía trước.
Mẫu 13 – đề phân tích nghệ thuật tả cảnh ngụ tình
Thơ cổ điển phương Đông vốn quen dùng bút pháp tả cảnh ngụ tình, song Nguyễn Du đã đưa bút pháp ấy lên một tầm cao mới. Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, thiên nhiên xuất hiện hai lần: mở đầu là cảnh nhìn từ lầu cao, khép lại là bốn bức tranh chiều hôm bên cửa bể. Lần nào cảnh cũng mang dấu ấn tâm trạng của Thúy Kiều, từ sự trơ trọi, bẽ bàng đến nỗi hoang mang, sợ hãi. Tìm hiểu nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong đoạn thơ cũng chính là tìm hiểu diễn biến nội tâm phức tạp của nhân vật.
Mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – từ không gian và thời gian giam hãm con người
Có những nhà tù được xây bằng song sắt, và có những nhà tù được dựng nên từ chính sự hoang vắng. Lầu Ngưng Bích mà Nguyễn Du miêu tả trong Truyện Kiều thuộc loại thứ hai. Bốn phía là non xa, trăng gần, cát vàng, bụi hồng; ngày nối ngày chỉ có “mây sớm đèn khuya”. Không ai canh giữ, vậy mà Thúy Kiều không có lối thoát. Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích vì thế không chỉ kể về một cảnh ngộ, mà còn soi vào tận đáy một tâm hồn bị cô lập: tâm hồn ấy vẫn hướng về người yêu, về cha mẹ, rồi chìm dần vào nỗi lo âu trước cơn sóng gió của số phận. Qua đó, người đọc nhận ra tài năng và trái tim nhân đạo lớn lao của đại thi hào.
Nên chọn mẫu mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích nào?
Mười bốn mẫu mở bài Kiều ở lầu Ngưng Bích ở trên đi theo nhiều lối: giới thiệu thẳng, dẫn từ cảm hứng nhân đạo, từ hình ảnh “khóa xuân”, từ trình tự nỗi nhớ hay so sánh với Cảnh ngày xuân. Bài kiểm tra ngắn nên dùng mẫu trực tiếp; đề phân tích một phần đoạn trích nên chọn mẫu riêng cho 6 câu đầu, 8 câu giữa hoặc 8 câu cuối. Em nhớ giữ câu chốt khớp với yêu cầu của đề và viết lại bằng giọng văn của mình.
Xem thêm:
- Phân tích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Nguyễn Du) – tuyển chọn bài văn hay
- Kiều ở lầu Ngưng Bích: tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp
- Phong cách sáng tác của Nguyễn Du
- Kết bài Kiều ở lầu Ngưng Bích hay nhất – 13 mẫu ngắn gọn, liên hệ, theo đề
- Mở bài Cảnh ngày xuân hay nhất – 14 mẫu trực tiếp, gián tiếp, nâng cao