Thúy Kiều báo ân, báo oán là đoạn trích kể lại “phiên tòa” Thúy Kiều đền ơn, trả oán trong kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du, được học ở Bài 5 “Khát vọng công lí”, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập một. Bài viết tổng hợp văn bản đoạn trích, thông tin về tác giả, vị trí đoạn trích, thể loại, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy để các em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Thúy Kiều báo ân, báo oán
Văn bản trong SGK ứng với câu 2315 đến câu 2396 của Truyện Kiều, lược hai chỗ đánh dấu […]: câu 2339 – 2354 (Kiều đền ơn mụ quản gia, sư Giác Duyên và cho dẫn phạm nhân vào) và câu 2389 – 2390 (cảnh hành hình). Văn bản dưới đây đối chiếu với bản Truyện Kiều trên Wikisource và văn bản in trong SGK.

Trướng hùm mở giữa trung quân,
Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi.
Tiên nghiêm trống chửa dứt hồi,
Điểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
Từ rằng: “Ân oán hai bên,
Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh.”
Nàng rằng: “Nhờ cậy uy linh,
Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.
Báo ân rồi sẽ trả thù.”
Từ rằng: “Việc ấy để cho mặc nàng.”
Cho gươm mời đến Thúc lang,
Mặt như chàm đổ, mình dường dẽ run.
Nàng rằng: “Nghĩa trọng nghìn non,
Lâm Tri người cũ, chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng,
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
Tạ lòng dễ xứng, báo ân gọi là.
Vợ chàng quỷ quái tinh ma,
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau.
Kiến bò miệng chén chưa lâu,
Mưu sâu cũng trả nghĩa sâu cho vừa.”
Thúc Sinh trông mặt bấy giờ,
Mồ hôi chàng đã như mưa ướt đầm.
[…]
Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
Chính danh thủ phạm tên là Hoạn Thư.
Thoạt trông nàng đã chào thưa:
“Tiểu thư cũng có bây giờ đến đây!
Đàn bà dễ có mấy tay,
Đời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
Dễ dàng là thói hồng nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.”
Hoạn Thư hồn lạc phách xiêu,
Khấu đầu dưới trướng, liệu điều kêu ca.
Rằng: “Tôi chút dạ đàn bà,
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Nghĩ cho khi gác viết kinh,
Với khi khỏi cửa dứt tình chẳng theo.
Lòng riêng riêng những kính yêu,
Chồng chung chưa dễ ai chiều cho ai.
Trót lòng gây việc chông gai,
Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng?”
Khen cho: “Thật đã nên rằng,
Khôn ngoan đến mực nói năng phải lời.
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên.”
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Tạ lòng lạy trước sân mây,
Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào.
Nàng rằng: “Lồng lộng trời cao,
Hại nhân nhân hại, sự nào tại ta?
Trước là Bạc Hạnh, Bạc Bà,
Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
Tú Bà cùng Mã Giám Sinh,
Các tên tội ấy đáng tình còn sao?”
Lệnh quân truyền xuống nội đao,
Thề sao thì lại cứ sao gia hình.
[…]
Cho hay muôn sự tại trời,
Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta!
Mấy người bạc ác tinh ma,
Mình làm mình chịu kêu mà ai thương!
Ba quân đông mặt pháp trường,
Thanh thiên bạch nhật rõ ràng cho coi.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều)
Một số từ ngữ khó: trướng hùm – trướng của võ tướng, gợi vẻ uy nghiêm; trung quân – doanh trại ở giữa, nơi chủ tướng đóng; tiên nghiêm – hồi trống báo hiệu để mọi người nghiêm chỉnh chờ lệnh; cửa viên – cửa doanh trại; minh – rõ ràng, sáng tỏ; uy linh – uy thế lớn; Thúc lang – chàng Thúc (Thúc Sinh); chàm đổ – mặt tái xanh như bị nhuộm chàm; Sâm Thương – hai ngôi sao không bao giờ cùng mọc, chỉ sự chia lìa; chữ tòng – đạo theo chồng của người phụ nữ xưa; cố nhân – người quen cũ; kẻ cắp bà già gặp nhau – thành ngữ, hai kẻ ranh mãnh như nhau gặp nhau; kiến bò miệng chén – thành ngữ, chỉ kẻ đang loanh quanh trong vòng nguy khốn, khó thoát; tri quá – biết lỗi; trướng tiền – trước trướng; nội đao – đao phủ trong quân; gia hình – thi hành hình phạt; bõ – bù lại, đáng; thanh thiên bạch nhật – giữa ban ngày, ai cũng thấy rõ.
Thông tin tác giả Nguyễn Du
Nguyễn Du (1765 – 1820), tên chữ là Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông xuất thân trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng và văn chương; cha là Nguyễn Nghiễm từng giữ chức Tể tướng dưới triều Lê. Mồ côi cha năm lên mười, mồ côi mẹ năm mười ba tuổi, ông sớm phải sống nhờ người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản.
Nguyễn Du sống trong giai đoạn lịch sử nhiều biến động cuối thế kỉ XVIII – đầu thế kỉ XIX: chế độ Lê – Trịnh khủng hoảng rồi sụp đổ, phong trào Tây Sơn nổi dậy, nhà Nguyễn lên nắm quyền. Nhiều năm lưu lạc, sống nghèo khó, gần gũi nhân dân đã cho ông vốn sống sâu rộng và niềm cảm thông với những kiếp người bất hạnh. Năm 1802, ông ra làm quan với nhà Nguyễn, từng giữ chức Cần Chánh điện học sĩ và làm chánh sứ sang Trung Quốc (1813 – 1814). Ông mất năm 1820 tại Huế.
Sự nghiệp văn học của Nguyễn Du gồm sáng tác chữ Hán với ba tập thơ Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục, và sáng tác chữ Nôm tiêu biểu là Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều), Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn). Xem thêm tại tuyển tập thơ Nguyễn Du.
Nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Du là chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc: thương cảm những con người nhỏ bé bị chà đạp, đặc biệt là người phụ nữ tài hoa bạc mệnh; lên án những thế lực tàn bạo; trân trọng khát vọng tình yêu, tự do và công lí. Ông được tôn vinh là đại thi hào dân tộc và là Danh nhân văn hóa thế giới. Tìm hiểu kĩ hơn tại bài tác giả Nguyễn Du: cuộc đời và sự nghiệp.
Thông tin tác phẩm Thúy Kiều báo ân, báo oán
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp khi học đoạn trích.
Truyện Kiều là tác phẩm như thế nào?
Truyện Kiều có tên chữ Hán là Đoạn trường tân thanh, gồm 3.254 câu thơ lục bát. Nguyễn Du dựa vào cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc) nhưng sáng tạo lại sâu sắc về nhân vật, ngôn ngữ, cách kể. Tác phẩm kể về cuộc đời Thúy Kiều – người con gái tài sắc phải bán mình chuộc cha, trải qua mười lăm năm lưu lạc – và thường được chia thành ba phần: Gặp gỡ và đính ước; Gia biến và lưu lạc; Đoàn tụ.
Xuất xứ và vị trí đoạn trích
Đoạn trích thuộc cuối phần thứ hai “Gia biến và lưu lạc”. Sau khi bị bán vào lầu xanh lần thứ hai ở Châu Thai, Kiều gặp Từ Hải. Người anh hùng “đội trời đạp đất” chuộc nàng ra, cưới làm vợ, rồi ra đi lập nghiệp; khi trở về với cơ đồ lừng lẫy, Từ Hải nghe Kiều kể chuyện oan khổ, liền sai quân bắt những kẻ bạc ác, mời những người có ơn về doanh trại để nàng tự tay đền ơn, trả oán. Văn bản trong SGK là câu 2315 – 2396, có lược bớt hai chỗ. Sau cảnh này, Kiều khuyên Từ Hải ra hàng triều đình, dẫn đến bi kịch Từ Hải chết đứng.
Thể loại, phương thức biểu đạt và ngôi kể
- Thể loại: truyện thơ Nôm (đoạn trích), viết bằng thể thơ lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự, kết hợp miêu tả, biểu cảm và nghị luận (trong lời bình của người kể chuyện, lời bào chữa của Hoạn Thư).
- Ngôi kể: ngôi thứ ba; người kể chuyện giấu mình nhưng có lúc trực tiếp bình luận (sáu câu cuối).
Bố cục: Thúy Kiều báo ân, báo oán có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm bốn phần:
- Phần 1 (10 dòng đầu, “Trướng hùm mở giữa trung quân… Việc ấy để cho mặc nàng”): khung cảnh phiên xử; Từ Hải trao quyền cho Kiều.
- Phần 2 (14 dòng tiếp, “Cho gươm mời đến Thúc lang… như mưa ướt đầm”): Kiều báo ân Thúc Sinh.
- Phần 3 (34 dòng tiếp, “Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra… cứ sao gia hình”): Kiều báo oán – tha Hoạn Thư, trừng trị bọn bạc ác.
- Phần 4 (6 dòng cuối): lời bình của người kể chuyện.
Một số tài liệu gộp lại thành hai phần lớn: cảnh báo ân (Thúc Sinh) và cảnh báo oán (Hoạn Thư cùng những kẻ khác).
Giá trị nội dung
- Kể lại cảnh Thúy Kiều đền ơn người đã giúp mình và trừng trị những kẻ đã gây oan khổ cho mình, làm nổi bật con người trọng tình nghĩa, sắc sảo, rạch ròi mà bao dung, vị tha của Kiều.
- Thể hiện ước mơ công lí, chính nghĩa của nhân dân: người bị áp bức đứng lên cầm cán cân công lí, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác”.
- Qua việc Kiều tha Hoạn Thư, tác giả cho thấy cái nhìn nhân đạo, thấu hiểu con người: người biết nhận lỗi có thể được khoan dung.
Giá trị nghệ thuật
- Xây dựng nhân vật chủ yếu qua ngôn ngữ đối thoại: mỗi lời thoại bộc lộ rõ tính cách, tâm trạng của Kiều, Từ Hải, Hoạn Thư.
- Ngôn ngữ linh hoạt: với Thúc Sinh, lời Kiều trang trọng, dùng từ Hán Việt và điển cố (Sâm Thương, chữ tòng, cố nhân); với Hoạn Thư, lời lẽ nôm na, dùng thành ngữ dân gian (kẻ cắp bà già, kiến bò miệng chén), giọng mỉa mai sắc lạnh.
- Miêu tả tâm lí qua ngoại hình, cử chỉ: Thúc Sinh “mặt như chàm đổ”, “mồ hôi… như mưa ướt đầm”; Hoạn Thư “hồn lạc phách xiêu”.
- Kết hợp tự sự với bình luận; không khí trang nghiêm, giàu kịch tính như một màn kịch.
Ý nghĩa nhan đề Thúy Kiều báo ân, báo oán
Nhan đề do người biên soạn đặt, gồm hai vế song song “báo ân” – “báo oán”, nêu đúng hai sự việc chính của đoạn trích. Đặt tên nhân vật Thúy Kiều lên đầu, nhan đề nhấn mạnh sự đổi thay số phận: người từng chịu ơn và chịu oan nay là chủ thể của hành động đền đáp, phán xử.
Sơ đồ tư duy Thúy Kiều báo ân, báo oán
Sơ đồ tóm lược sáu nội dung cần nhớ: tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, nội dung và nghệ thuật.

Tóm tắt Thúy Kiều báo ân, báo oán
Hai mẫu tóm tắt ngắn dưới đây giúp em nhớ nhanh diễn biến đoạn trích.
Mẫu 1 – Tóm tắt Thúy Kiều báo ân, báo oán ngắn nhất
Từ Hải mở phiên xử giữa quân doanh, trao cho Kiều toàn quyền báo ân, báo oán. Kiều mời Thúc Sinh đến, cảm tạ ơn xưa và tặng gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân. Đến lượt Hoạn Thư, Kiều mỉa mai, cảnh cáo, nhưng sau khi nghe ả khôn khéo bào chữa và nhận lỗi, nàng tha bổng. Những kẻ bạc ác như Tú Bà, Mã Giám Sinh, Sở Khanh, Bạc Bà, Bạc Hạnh, Ưng, Khuyển đều bị trừng trị đích đáng.
Mẫu 2 – Tóm tắt Thúy Kiều báo ân, báo oán theo bố cục
Trong trướng hùm giữa trung quân, Từ Hải cùng phu nhân ngồi xử án, trống tiên nghiêm vang lên, phạm nhân được điểm danh dẫn vào. Từ Hải để Kiều tự quyết việc ân oán; Kiều xin báo ân trước, trả thù sau. Thúc Sinh được mời đến, run sợ tái mặt; Kiều nhắc lại tình nghĩa ở Lâm Tri, gỡ tội cho chàng, tặng lễ vật hậu hĩnh và báo trước rằng Hoạn Thư sẽ phải đền tội. Hoạn Thư bị dẫn đến dưới cờ; Kiều chào “tiểu thư” bằng giọng mỉa mai. Hoạn Thư hoảng sợ nhưng vẫn khôn ngoan viện lẽ ghen tuông là thường tình, kể công đã cho Kiều ra gác viết kinh, không đuổi theo khi Kiều trốn, rồi nhận lỗi. Kiều khen ả khôn ngoan, cho tha ngay. Sau đó, bọn Bạc Hạnh, Bạc Bà, Ưng, Khuyển, Sở Khanh, Tú Bà, Mã Giám Sinh bị xử đúng như lời chúng đã thề. Người kể chuyện kết lại bằng lời bình về lẽ nhân quả, công lí rõ ràng giữa ban ngày.
Nếu cần thêm nhiều cách tóm tắt (theo lời nhân vật, đặt trong mạch toàn truyện), em có thể tham khảo bài tóm tắt riêng của đoạn trích.
Lời kết
Thúy Kiều báo ân, báo oán là đoạn thơ giàu kịch tính, cho thấy tấm lòng nhân nghĩa, bao dung của Thúy Kiều, ước mơ công lí của nhân dân và tài xây dựng nhân vật qua đối thoại của Nguyễn Du. Nắm chắc tác giả, vị trí, bố cục và giá trị của đoạn trích sẽ giúp em soạn bài và làm bài phân tích dễ dàng hơn.
Xem thêm: