Nỗi niềm chinh phụ là văn bản đọc mở đầu Bài 2 Những cung bậc tâm trạng trong sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập 1. Đoạn trích ghi lại khoảnh khắc người vợ tiễn chồng ra trận và nỗi sầu của nàng khi một mình quay về. Dưới đây là toàn văn đoạn trích cùng những kiến thức trọng tâm: tác giả, dịch giả, xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Nỗi niềm chinh phụ
Đoạn trích gồm 24 câu, từ câu 41 đến câu 64 của bản dịch Chinh phụ ngâm (nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, sách giáo khoa ghi bản dịch của Đoàn Thị Điểm). Văn bản thuộc phạm vi công cộng nên được giới thiệu trọn vẹn.

NỖI NIỀM CHINH PHỤ
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kị sau còn khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Thông tin tác giả Đặng Trần Côn và dịch giả Đoàn Thị Điểm
Đặng Trần Côn – người viết nguyên tác
Đặng Trần Côn sống vào khoảng đầu thế kỉ XVIII (chưa rõ năm sinh, năm mất), quê làng Nhân Mục – còn gọi là làng Mọc – nay thuộc Hà Nội. Ông đỗ Hương cống, làm quan đến chức Ngự sử đài chiếu khám.
Tuy làm quan trong khuôn khổ Nho giáo, Đặng Trần Côn lại hướng ngòi bút vào những tình cảm riêng tư, những nỗi niềm thầm kín của con người. Chinh phụ ngâm viết bằng chữ Hán là tác phẩm làm nên tên tuổi của ông; bên cạnh đó còn lưu lại một số bài thơ, bài phú chữ Hán khác.
Đoàn Thị Điểm – người dịch
Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), hiệu Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc (nay thuộc Hưng Yên). Bà nổi tiếng thông minh, giỏi văn chương từ nhỏ, sáng tác cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, là tác giả tập truyện chữ Hán Truyền kì tân phả.
Bản dịch Chinh phụ ngâm theo thể song thất lục bát đang lưu hành từ lâu được nhiều học giả cho là của Đoàn Thị Điểm. Tuy vậy, cũng có ý kiến cho rằng bản dịch này là của Phan Huy Ích – sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo ghi theo ý kiến thứ hai. Dù người dịch là ai, bản dịch vẫn được coi là một đỉnh cao của thơ Nôm, nhiều câu hay không kém nguyên tác.
Thông tin tác phẩm Nỗi niềm chinh phụ
Xuất xứ đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ
Chinh phụ ngâm nguyên tác chữ Hán, sau được dịch ra chữ Nôm; bản dịch phổ biến gồm 408 câu song thất lục bát. Đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ gồm 24 câu (từ câu 41 đến câu 64), nằm ở phần đầu tác phẩm, ngay sau cảnh người chinh phu từ giã gia đình lên đường. Nhan đề đoạn trích do người biên soạn sách đặt.
Hoàn cảnh sáng tác Chinh phụ ngâm
Đặng Trần Côn viết Chinh phụ ngâm vào khoảng năm 1741, những năm đầu niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ, ở Đàng Ngoài nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân, triều đình Lê – Trịnh liên tục điều quân đi đánh dẹp. Chiến tranh kéo dài khiến bao người đàn ông phải ra trận, bao người vợ ở nhà chịu cảnh cô đơn, chờ đợi. Khúc ngâm ra đời từ chính hiện thực đau thương ấy.
Nỗi niềm chinh phụ thuộc thể thơ gì?
Đoạn trích viết theo thể song thất lục bát – thể thơ dân tộc với khổ bốn câu (hai câu bảy chữ, một câu sáu chữ, một câu tám chữ), phối hợp vần lưng và vần chân, rất phù hợp để diễn tả những tâm trạng buồn thương, triền miên.
Phương thức biểu đạt, nhân vật trữ tình
Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả và tự sự. Nhân vật trữ tình là người chinh phụ – người vợ trẻ vừa tiễn chồng ra trận, bộc lộ trực tiếp nỗi lòng qua cách xưng “thiếp” và gọi “chàng”.
Giải thích một số từ ngữ, địa danh
- Hà lương: cầu sông – nơi người xưa thường tiễn biệt nhau.
- Doanh Liễu, Tràng Dương: tên doanh trại, địa danh bên Trung Hoa, chỉ nơi quân lính tập kết và đường ra trận.
- Liễu dương: cây dương liễu bên đường, chứng kiến cảnh chia tay.
- Đoạn trường: đứt ruột, chỉ nỗi đau đớn tột cùng.
- Hàm Dương (Hàm Kinh): kinh đô nhà Tần, chỉ nơi người chinh phu đi tới; Tiêu Tương: tên sông, chỉ nơi người chinh phụ ở lại.
- Ngàn dâu: rừng dâu, bãi dâu trải rộng, gợi không gian mênh mông ngăn cách.
Bố cục Nỗi niềm chinh phụ có mấy phần?
Đoạn trích chia làm 2 phần, mỗi phần 12 câu:
- Phần 1 (12 câu đầu): cảnh người chinh phụ tiễn biệt người chinh phu và nỗi niềm của nàng ngay lúc chia li.
- Phần 2 (12 câu cuối): tâm trạng của người chinh phụ khi một mình trở về, ngoảnh trông theo chồng mà chỉ thấy cách trở.
Giá trị nội dung
- Khắc họa cảnh tiễn đưa đầy lưu luyến và nỗi sầu li biệt ngày càng dâng cao của người chinh phụ.
- Thể hiện tình yêu thương, gắn bó sâu nặng giữa hai vợ chồng và khát khao được sum vầy.
- Là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia rẽ hạnh phúc lứa đôi.
Giá trị nghệ thuật
- Thể song thất lục bát nhịp nhàng, giàu nhạc điệu, diễn tả tâm trạng da diết.
- Phép đối (“Chàng thì đi” – “Thiếp thì về”, “Chốn Hàm Kinh” – “Bến Tiêu Tương”), điệp ngữ và điệp liên hoàn (“Tiêu Tương”, “Hàm Dương”, “ngàn dâu”) được dùng đặc sắc.
- Bút pháp tả cảnh ngụ tình, hình ảnh ước lệ tượng trưng; câu hỏi tu từ khép lại đoạn trích đầy dư ba.
Ý nghĩa nhan đề Nỗi niềm chinh phụ
“Nỗi niềm” là những tâm tư sâu kín, khó giãi bày. Nhan đề cho thấy trọng tâm đoạn trích không nằm ở cảnh ra quân mà ở thế giới nội tâm của người vợ: buồn, lo, nhớ, sầu đan xen từ giây phút chia tay đến khi bóng chồng khuất hẳn.
Sơ đồ tư duy Nỗi niềm chinh phụ
Sơ đồ tóm tắt các ý chính của đoạn trích để em ôn tập nhanh.

Lời kết
Chỉ với 24 câu thơ, Nỗi niềm chinh phụ đã làm sống dậy nỗi đau chia li của con người trong chiến tranh và cho thấy vẻ đẹp tâm hồn thủy chung, giàu tình thương của người phụ nữ xưa. Để học tốt đoạn trích, em tham khảo thêm:
- Soạn bài Buổi tiễn đưa – Nỗi niềm chinh phụ
- Thơ song thất lục bát là gì?
- Tự tình (bài 2) – Hồ Xuân Hương, một tiếng lòng người phụ nữ khác trong Ngữ văn 9
- Soạn văn 9 Kết nối tri thức
Xem thêm: