Soạn bài Nỗi niềm chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm, nguyên tác Đặng Trần Côn) giúp các em chuẩn bị văn bản đọc mở đầu Bài 2 “Những cung bậc tâm trạng”, SGK Ngữ văn 9 tập một. Ở một số tài liệu cũ, văn bản này từng mang tên “Buổi tiễn đưa” và in dài hơn (52 câu, từ câu 13 đến câu 64); sách hiện hành chỉ in 24 câu (từ câu 41 đến câu 64) với nhan đề “Nỗi niềm chinh phụ”. Bài soạn dưới đây theo đúng văn bản và câu hỏi của sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức (trang 41–44).
Tìm hiểu chung về đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ
Phần này tóm tắt thông tin về tác giả, bản dịch, thể thơ và bố cục – những kiến thức cần cho hầu hết câu hỏi sau khi đọc.

- Tác giả nguyên tác: Đặng Trần Côn, sống vào khoảng đầu thế kỉ XVIII, quê làng Nhân Mục (làng Mọc), nay thuộc Hà Nội; viết Chinh phụ ngâm bằng chữ Hán khoảng năm 1741, khi chiến tranh liên miên khiến bao người phải xa nhà ra trận.
- Bản dịch: bản dịch Nôm theo thể song thất lục bát quen thuộc được nhiều người cho là của Đoàn Thị Điểm (SGK ghi kèm dấu hỏi vì còn có ý kiến cho là của Phan Huy Ích).
- Vị trí đoạn trích: câu 41–64 của bản dịch, ngay sau cảnh người chinh phu từ biệt gia đình lên đường.
- Thể thơ: song thất lục bát; nhân vật trữ tình là người chinh phụ, xưng “thiếp”, gọi chồng là “chàng”.
Để tiện theo dõi các câu hỏi, dưới đây là văn bản đoạn trích (bản dịch đã thuộc phạm vi công cộng):
Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống,
Giáp mặt rồi phút bỗng chia tay.
Hà lương chia rẽ đường này,
Bên đường trông bóng cờ bay ngùi ngùi.
Quân trước đã gần ngoài doanh Liễu,
Kị sau còn khuất nẻo Tràng Dương.
Quân đưa chàng ruổi lên đường,
Liễu dương biết thiếp đoạn trường này chăng?
Tiếng địch thổi nghe chừng đồng vọng,
Hàng cờ bay trông bóng phất phơ.
Dấu chàng theo lớp mây đưa,
Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà.
Chàng thì đi cõi xa mưa gió,
Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.
Đoái trông theo đã cách ngăn,
Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.
Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.
Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?
Soạn bài Nỗi niềm chinh phụ: Trước khi đọc
Câu 1: Nêu một cuộc chiến xảy ra trên đất nước ta đầu thế kỉ XVIII (trang 41)
Đề bài: Đầu thế kỉ XVIII, nhiều cuộc chiến đã xảy ra trên đất nước ta. Hãy nêu một cuộc chiến mà em biết.
Trả lời:
Nửa đầu thế kỉ XVIII, ở Đàng Ngoài nổ ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại chính quyền Lê – Trịnh, như khởi nghĩa Nguyễn Danh Phương, khởi nghĩa Hoàng Công Chất, khởi nghĩa Nguyễn Hữu Cầu, khởi nghĩa Lê Duy Mật. Triều đình liên tục điều quân đi đánh dẹp, cuộc chiến kéo dài nhiều năm. Bao trai tráng phải rời gia đình ra trận, để lại cha mẹ, vợ con ở nhà trong nỗi lo âu – đó cũng chính là hiện thực làm nên Chinh phụ ngâm.
Câu 2: Tiễn đưa trong chiến tranh khác gì tiễn đưa thường ngày? (trang 41)
Đề bài: Theo em, những cuộc tiễn đưa trong chiến tranh có gì khác biệt so với tiễn đưa trong hoàn cảnh bình thường của cuộc sống?
Trả lời:
Tiễn người đi học, đi làm xa thường kèm lời chúc, niềm tin vào ngày gặp lại, và người đi vẫn có thể liên lạc, trở về khi muốn. Tiễn người ra trận thì khác: không ai biết bao giờ người đi trở lại, thậm chí có trở lại được không. Vì vậy cuộc tiễn đưa trong chiến tranh nặng trĩu lo âu, quyến luyến, có khi là lần gặp cuối cùng; nỗi buồn của người ở lại cũng kéo dài, day dứt hơn.
Đọc văn bản Nỗi niềm chinh phụ
Trong khi đọc, SGK nêu ba gợi ý hình dung và theo dõi.
Câu 1: Hình dung cảnh người chinh phụ tiễn biệt người chinh phu (trang 41)
Trả lời:
Em hình dung một buổi xuất quân náo động: tiếng nhạc ngựa xen tiếng trống giục, cờ bay trên đường. Đôi vợ chồng vừa giáp mặt đã phải chia tay bên cây cầu bắc qua sông. Đoàn quân đi trước đã gần tới doanh trại, quân đi sau còn khuất nẻo đường xa; người chồng theo đoàn quân lên đường, người vợ đứng bên hàng dương liễu nhìn theo, lòng đau như đứt ruột. Cảnh ồn ào bên ngoài càng làm nổi bật nỗi buồn lặng lẽ của người ở lại.
Câu 2: Theo dõi các từ ngữ miêu tả cảm xúc của người chinh phụ (trang 42)
Trả lời:
Các từ ngữ tiêu biểu: “ngùi ngùi”, “đoạn trường”, “ngẩn ngơ”, “sầu” (trong câu hỏi cuối “ai sầu hơn ai?”). Chúng diễn tả nỗi buồn tăng dần: từ bùi ngùi lưu luyến, đến đau đớn như đứt ruột, rồi thẫn thờ và cuối cùng là nỗi sầu mênh mông không biết lấy gì đo.
Câu 3: Hình dung tâm trạng người chinh phụ sau khi chia li (trang 42)
Trả lời:
Khi người chồng đã khuất, người chinh phụ trở về căn buồng cũ, một mình với chiếu chăn. Nàng vẫn đứng trông theo, nhưng giữa hai người là mây biếc, núi xanh, rồi bãi dâu bạt ngàn. Tâm trạng nàng là nỗi nhớ thương, hụt hẫng, cô đơn, càng trông càng không thấy, càng nhìn càng sầu.
Soạn bài Nỗi niềm chinh phụ: Sau khi đọc (trang 43–44)
Bảy câu hỏi sau khi đọc tập trung vào đặc điểm thể thơ song thất lục bát, các biện pháp nghệ thuật và tâm trạng người chinh phụ.
Câu 1: Đặc điểm thể thơ song thất lục bát trong đoạn trích; khác gì thể lục bát? (trang 43)
Đề bài: Chỉ ra những đặc điểm của thể thơ song thất lục bát thể hiện trong đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ. Những đặc điểm này cho thấy thể thơ song thất lục bát có gì khác với thể thơ lục bát?
Trả lời:
- Số tiếng, khổ thơ: mỗi khổ bốn dòng gồm hai dòng bảy tiếng (song thất) và một cặp lục bát; 24 dòng chia thành 6 khổ.
- Vần: phối hợp vần chân và vần lưng. Tiếng cuối dòng bảy thứ nhất vần với tiếng thứ năm dòng bảy thứ hai (trống – bỗng, Liễu – nẻo); tiếng cuối dòng bảy thứ hai vần với tiếng cuối dòng sáu (tay – này); tiếng cuối dòng sáu vần với tiếng thứ sáu dòng tám (này – bay); tiếng cuối dòng tám lại bắc vần sang tiếng thứ năm của dòng bảy mở đầu khổ sau (chăng – chừng, nhà – xa), làm các khổ nối liền nhau.
- Nhịp: dòng bảy thường ngắt 3/4 (“Tiếng nhạc ngựa / lần chen tiếng trống”), dòng sáu và dòng tám thường ngắt nhịp chẵn 2/2/2, 4/4.
Khác với lục bát: lục bát chỉ gồm các cặp câu sáu – tám nối tiếp, vần đơn giản hơn; song thất lục bát có thêm cặp câu bảy tiếng nhịp lẻ 3/4, vần phối hợp phức tạp hơn, tạo âm điệu trầm buồn, triền miên, rất hợp để diễn tả những nỗi niềm sâu kín.
Câu 2: Bố cục và nội dung từng phần (trang 43)
Trả lời:
- Phần 1 (12 câu đầu, từ “Tiếng nhạc ngựa lần chen tiếng trống” đến “Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà”): cảnh tiễn đưa và nỗi niềm của người chinh phụ lúc chia li.
- Phần 2 (12 câu cuối, từ “Chàng thì đi cõi xa mưa gió” đến hết): tâm trạng của người chinh phụ khi một mình trở về, nhìn theo người chồng đã đi xa.
Câu 3: Phương án ngắt nhịp bốn câu thơ và tác dụng (trang 43)
Đề bài: Đề xuất phương án ngắt nhịp bốn câu thơ sau và cho biết tác dụng của cách ngắt nhịp đó: “Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại, / Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang. / Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương, / Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng.”
Trả lời:
Chốn Hàm Kinh / chàng còn ngoảnh lại,
Bến Tiêu Tương / thiếp hãy trông sang.
Khói Tiêu Tương / cách Hàm Dương,
Cây Hàm Dương / cách Tiêu Tương / mấy trùng.
Tác dụng: nhịp 3/4 ở hai câu bảy tách rõ hai không gian (chàng ở Hàm Kinh, thiếp ở Tiêu Tương) và hai hành động hướng về nhau; nhịp ở câu sáu, câu tám đặt hai địa danh đối xứng, đảo vị trí cho nhau, khiến người đọc cảm nhận khoảng cách mỗi lúc một xa, “mấy trùng” ngăn trở. Nhịp thơ chậm, đều, như tiếng thở dài của người chinh phụ.
Câu 4: Tác dụng của phép đối trong các câu thơ (trang 44)
Đề bài: Chỉ ra và phân tích tác dụng của phép đối trong những câu thơ: a) “Chàng thì đi cõi xa mưa gió, / Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn.”; b) “Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.”; c) “Chốn Hàm Kinh chàng còn ngoảnh lại, / Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang.”
Trả lời:
a. Đối “chàng – thiếp”, “đi – về”, “cõi xa mưa gió – buồng cũ chiếu chăn”. Phép đối tách đôi vợ chồng về hai phía: người đi vào chốn gian nan, người về nơi quen thuộc nhưng trống vắng. Sự chia lìa hiện lên rõ rệt, gợi nỗi thương chồng và nỗi cô đơn của chính nàng.
b. Đối trong một câu: “tuôn màu mây biếc – trải ngần núi xanh”. Mây và núi trải ra mênh mông, chồng chất như bức tường ngăn tầm mắt người chinh phụ. Thiên nhiên đẹp mà làm khoảng cách thêm xa, nỗi buồn thêm dài.
c. Đối “Chốn Hàm Kinh – Bến Tiêu Tương”, “chàng – thiếp”, “còn ngoảnh lại – hãy trông sang”. Cả hai cùng hướng về nhau, nhưng ở hai phương trời cách biệt. Phép đối vừa khẳng định tình cảm gắn bó, vừa làm nổi bật nghịch cảnh chia lìa.
Câu 5: Biện pháp tu từ trong bốn câu thơ cuối (trang 44)
Trả lời:
Bốn câu cuối: “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy, / Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu. / Ngàn dâu xanh ngắt một màu, / Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
- Điệp ngữ, điệp vòng (“cùng… cùng”, “thấy – thấy”, “ngàn dâu – ngàn dâu”, “xanh xanh – xanh ngắt”): câu sau nối vào câu trước, tạo nhịp trùng điệp, như nỗi buồn cứ dâng lên mãi, không dứt.
- Từ láy, sắc độ màu “xanh xanh” rồi “xanh ngắt”: màu xanh đậm dần, mênh mông, đơn điệu, gợi không gian vô tận và nỗi sầu lan tỏa.
- Tả cảnh ngụ tình: bãi dâu bạt ngàn chính là nỗi sầu của người chinh phụ.
- Câu hỏi tu từ “ai sầu hơn ai?”: không cần câu trả lời; khẳng định nỗi sầu của cả hai đều lớn như nhau, không thể đo đếm.
Câu 6: Tâm trạng người chinh phụ và suy nghĩ về giá trị cuộc sống (trang 44)
Đề bài: Người chinh phụ tiễn người chinh phu ra trận với tâm trạng thế nào? Qua tâm trạng đó của người chinh phụ, em hiểu gì về giá trị cuộc sống?
Trả lời:
Người chinh phụ tiễn chồng trong nỗi buồn, lưu luyến, đau đớn (“đoạn trường”), rồi thẫn thờ, cô đơn khi trở về; nàng trông theo mãi mà chỉ thấy mây, núi, ngàn dâu, và nỗi sầu không gì đong đếm được. Qua đó, em hiểu rằng hạnh phúc giản dị – được sống bên người thân, được bình yên – là điều vô cùng quý giá. Chiến tranh lấy đi điều quý giá ấy, nên con người cần trân trọng hòa bình, trân trọng những phút giây được ở bên gia đình hôm nay.
Câu 7: Hình ảnh ấn tượng nhất trong đoạn trích (trang 44)
Trả lời:
Em ấn tượng nhất với hình ảnh “ngàn dâu xanh ngắt một màu”. Đó là cảnh thật – những bãi dâu trải dài trước mắt người chinh phụ – nhưng cũng là hình ảnh của nỗi sầu: bao la, đơn điệu, phủ kín cả tầm nhìn. Màu xanh ấy không tươi vui mà gợi sự trống trải; càng nhìn càng thấy khoảng cách giữa mình và người chồng không thể vượt qua. Chỉ một hình ảnh mà nói được cả nỗi cô đơn của biết bao người vợ có chồng ra trận.
Viết kết nối với đọc: Tâm trạng người chinh phụ trong bốn câu thơ
Đề bài (trang 44): Viết đoạn văn (khoảng 7 – 9 câu) phân tích tâm trạng của người chinh phụ thể hiện trong bốn câu thơ: “Chàng thì đi cõi xa mưa gió, / Thiếp thì về buồng cũ chiếu chăn. / Đoái trông theo đã cách ngăn, / Tuôn màu mây biếc trải ngần núi xanh.”
Đoạn văn tham khảo:
Bốn câu thơ ghi lại khoảnh khắc người chinh phụ vừa rời cuộc tiễn đưa, lòng trĩu nặng nỗi chia lìa. Hai câu đầu dùng phép đối chỉnh: “chàng” đi, “thiếp” về; một người vào “cõi xa mưa gió”, một người trở lại “buồng cũ chiếu chăn”. Hai không gian trái ngược cho thấy nàng thương chồng phải dấn thân vào gian khổ, đồng thời thấy mình bỗng lẻ loi giữa những đồ vật quen thuộc từng là của hai người. Đến câu thứ ba, nàng vẫn “đoái trông theo”, nhưng chỉ kịp nhận ra mọi thứ “đã cách ngăn”. Câu cuối mở ra màu mây biếc, dãy núi xanh trùng điệp như bức tường vô hình chắn trước tầm mắt. Cảnh càng đẹp, càng rộng thì nỗi trống trải trong lòng người ở lại càng lớn. Qua bốn câu thơ, nỗi nhớ thương, hụt hẫng và cô đơn của người chinh phụ hiện lên thấm thía, khiến người đọc thêm thấu hiểu nỗi đau mà chiến tranh gây ra cho những gia đình bình thường.
Kết luận
Bài soạn Nỗi niềm chinh phụ trên đây trả lời đầy đủ câu hỏi SGK Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, giúp các em nắm đặc điểm thể song thất lục bát và diễn biến tâm trạng của người chinh phụ từ lúc tiễn đưa đến khi một mình trở về. Các em nên học thuộc đoạn trích để chủ động lấy dẫn chứng khi làm bài.
Một cách ôn hiệu quả là tự làm đề trước rồi mới xem đáp án, như đề tham khảo trong bài ôn tập học kì I Ngữ văn 9 Kết nối tri thức.
Xem thêm: