Nỗi nhớ thương của người chinh phụ là đoạn trích từ Chinh phụ ngâm – khúc ngâm nổi tiếng bậc nhất của văn học trung đại Việt Nam – được học ở Bài 8 Những cung bậc tình cảm, sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo tập 2. Bài viết tổng hợp đầy đủ những gì cần nắm trước khi soạn và phân tích đoạn trích: văn bản, tác giả Đặng Trần Côn và người diễn Nôm, xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, thể thơ song thất lục bát, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy. Cuối học kì, đoạn trích được xếp vào bảng văn bản Bài 6–10 của ôn tập học kì II văn 9 Chân trời sáng tạo.
Nội dung văn bản Nỗi nhớ thương của người chinh phụ
Đoạn trích gồm 28 câu thơ, từ câu 125 đến câu 152 của bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm. Sách giáo khoa Chân trời sáng tạo ghi: nguyên tác chữ Hán của Đặng Trần Côn, bản diễn Nôm của Phan Huy Ích. Tác phẩm đã thuộc phạm vi công cộng nên em có thể đọc trọn đoạn trích dưới đây.

NỖI NHỚ THƯƠNG CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ
Thuở lâm hành oanh chưa bén liễu,
Hỏi ngày về ước nẻo quyên ca.
Nay quyên đã giục oanh già,
Ý nhi lại gáy trước nhà líu lo.
Thuở đăng đồ mai chưa dạn gió,
Hỏi ngày về chỉ độ đào bông.
Nay đào đã quyến gió đông,
Tuyết mai trắng bãi, phù dung đỏ bờ.
Hẹn cùng ta Lũng Tây nham ấy,
Sớm đã trông nào thấy hơi tăm.
Ngập ngừng lá rụng cành trâm,
Buổi hôm nghe dậy tiếng cầm xôn xao.
Hẹn nơi nao, Hán Dương cầu nọ,
Chiều lại tìm, nào có tiêu hao.
Ngập ngừng gió thổi áo bào,
Bãi hôm tuôn dẫy nước trào mênh mông.
Tin thường lại người không thấy lại,
Hoa dương tàn đã trải rêu xanh.
Rêu xanh mấy lớp chung quanh,
Chân đi một bước, trăm tình ngẩn ngơ.
Thư thường tới người chưa thấy tới,
Bức rèm thưa lần giãi bóng dương.
Bóng dương mấy buổi xuyên ngang,
Lời sao mười hẹn, chín thường đơn sai.
Thử tính lại diễn khơi ngày ấy,
Tiền sen này đã nảy là ba.
Xót người lần lữa ải xa,
Xót người nương chốn Hoàng Hoa dặm dài.
Lưu ý: giữa các bản in, một vài chữ có dị bản (chẳng hạn “xung quanh” / “chung quanh”, “Tin gởi đi” / “Tin thường lại”). Khi làm bài kiểm tra, em nên trích theo đúng văn bản in trong sách giáo khoa.
Thông tin tác giả Đặng Trần Côn và người diễn Nôm
Tác giả Đặng Trần Côn
Đặng Trần Côn chưa rõ năm sinh, năm mất, sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Thanh Trì, nay thuộc Hà Nội. Ông đỗ Hương cống, từng làm quan dưới triều Lê – Trịnh, đến chức Ngự sử đài chiếu khám.
Đặng Trần Côn nổi tiếng hay chữ từ khi còn trẻ. Ngoài Chinh phụ ngâm viết bằng chữ Hán theo lối trường đoản cú (câu dài ngắn xen nhau), ông còn để lại một số bài phú và thơ chữ Hán. Sáng tác của ông thiên về tình cảm riêng tư, những nỗi niềm trắc ẩn của con người – điều khá mới mẻ trong văn chương đương thời vốn nặng về giáo huấn.
Người diễn Nôm Chinh phụ ngâm
Nguyên tác chữ Hán ra đời được giới nho sĩ đương thời hết sức yêu thích, nhiều người đã dịch ra chữ Nôm. Bản diễn Nôm theo thể song thất lục bát đang lưu hành rộng rãi hiện nay từ lâu được cho là của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748); một số nhà nghiên cứu lại cho rằng đây là bản của Phan Huy Ích. Sách Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo ghi người diễn Nôm là Phan Huy Ích, còn sách Kết nối tri thức (với đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ) ghi là bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Điều đó cho thấy vấn đề văn bản học này đến nay vẫn chưa ngã ngũ.
Phan Huy Ích (1750 – 1822) quê làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc (nay thuộc Hà Tĩnh), sau chuyển ra sống ở vùng Sơn Tây. Ông đỗ tiến sĩ, làm quan thời Lê – Trịnh rồi phục vụ triều Tây Sơn, là một cây bút văn chương và ngoại giao có tiếng cuối thế kỉ XVIII.
Thông tin tác phẩm Nỗi nhớ thương của người chinh phụ
Chinh phụ ngâm là tác phẩm gì?
Chinh phụ ngâm (khúc ngâm của người vợ có chồng đi đánh trận) là tiếng lòng của người chinh phụ từ buổi tiễn chồng ra trận đến những tháng năm mòn mỏi chờ đợi, xen lẫn ước mơ ngày đoàn tụ. Tác phẩm vừa lên án chiến tranh phong kiến gây chia lìa, vừa đề cao khát vọng hạnh phúc lứa đôi – một tiếng nói nhân đạo sâu sắc. Bản diễn Nôm phổ biến gồm 408 câu thơ song thất lục bát.
Xuất xứ đoạn trích
Đoạn trích nằm ở câu 125 đến câu 152 của bản diễn Nôm. Theo sách giáo khoa, văn bản được in trong Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 13 (Nguyễn Quảng Tuân sưu tầm, biên soạn), NXB Khoa học xã hội, 2000. Nhan đề “Nỗi nhớ thương của người chinh phụ” do người biên soạn sách đặt.
Hoàn cảnh sáng tác Chinh phụ ngâm
Chinh phụ ngâm được Đặng Trần Côn viết vào khoảng những năm đầu niên hiệu Cảnh Hưng (khoảng năm 1741). Đây là thời kì xã hội phong kiến Đàng Ngoài rối ren: nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra, triều đình liên tục cất quân đi đàn áp, trai tráng phải rời nhà ra trận, biết bao gia đình rơi vào cảnh chia lìa. Từ thực tế ấy, tác giả mượn lời người chinh phụ để nói lên nỗi khổ của con người trong chiến tranh.
Thể loại và phương thức biểu đạt
Đoạn trích viết theo thể thơ song thất lục bát: mỗi khổ gồm hai câu bảy chữ (song thất) nối tiếp một cặp lục bát, gieo cả vần lưng lẫn vần chân, hai câu thất thường ngắt nhịp 3/4. Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm, kết hợp miêu tả.
Nhân vật trữ tình
Nhân vật trữ tình là người chinh phụ – người vợ trẻ ở nhà một mình chờ chồng đi đánh trận ở nơi biên ải xa xôi. Toàn bộ đoạn trích là lời độc thoại nội tâm của nàng.
Giải thích một số từ ngữ, điển tích
- Lâm hành, đăng đồ: lúc lên đường ra đi.
- Oanh, quyên, ý nhi (chim én); mai, đào, phù dung: những loài chim, loài hoa gắn với từng mùa, được dùng làm mốc để đo thời gian chờ đợi.
- Lũng Tây nham, Hán Dương cầu: những địa danh xa xôi bên Trung Hoa mà người chinh phu hẹn gặp; mang tính ước lệ, chỉ nơi hò hẹn.
- Tiêu hao: tin tức, dấu vết.
- Diễn khơi: xa cách, kể từ ngày chia tay.
- Tiền sen: lá sen non nổi trên mặt nước như đồng tiền; lá sen nảy đã ba lần nghĩa là đã ba năm trôi qua.
- Hoàng Hoa: gợi tích lính thú đời xưa đi vào mùa hoa cúc vàng, hẹn năm sau mới được đổi về; chỉ chốn biên ải nơi người chinh phu đồn trú.
Bố cục Nỗi nhớ thương của người chinh phụ có mấy phần?
Đoạn trích có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (từ câu 125 đến câu 140): nỗi thất vọng của người chinh phụ vì chồng sai hẹn – sai hẹn về ngày trở về và sai hẹn về nơi gặp gỡ.
- Phần 2 (từ câu 141 đến câu 152): nỗi nhớ mong, ngóng đợi xen lẫn hờn trách và xót thương người chồng còn lần lữa nơi ải xa.
Mạch cảm xúc của đoạn trích
Cảm xúc vận động từ hi vọng đến thất vọng rồi đến xót thương. Mỗi khổ thơ đều mở ra bằng một lời hẹn và khép lại bằng thực tế trái ngược, khiến niềm hi vọng hao dần còn nỗi thất vọng dày lên. Đến bốn câu cuối, khi đếm ra đã ba năm xa cách, người chinh phụ không còn trách mà chuyển sang thương xót cho chồng.
Giá trị nội dung
- Diễn tả sâu sắc nỗi nhớ thương, mong mỏi đến mòn mỏi và nỗi cô đơn, thất vọng của người vợ có chồng đi chinh chiến.
- Thể hiện niềm cảm thông với khát vọng tình yêu, hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.
- Gián tiếp lên án chiến tranh phong kiến phi nghĩa đã chia cắt biết bao gia đình.
Giá trị nghệ thuật
- Thể song thất lục bát với vần, nhịp, đối và phép điệp được vận dụng nhuần nhuyễn, tạo giọng ngâm da diết, triền miên.
- Hình ảnh ước lệ, tượng trưng (oanh, quyên, mai, đào, rêu xanh, bóng dương) kết hợp bút pháp tả cảnh ngụ tình.
- Kết cấu lặp lại có biến đổi giữa lời hẹn và thực tế, khắc họa tinh tế diễn biến tâm trạng nhân vật.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề “Nỗi nhớ thương của người chinh phụ” nói trúng cảm xúc chủ đạo của đoạn trích: nhớ – vì xa cách đã quá lâu, thương – vì lo cho người chồng đang chịu gian nan nơi biên ải. Hai chữ ấy cũng là sợi chỉ xuyên suốt toàn bộ khúc ngâm.
Sơ đồ tư duy Nỗi nhớ thương của người chinh phụ
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn nhanh các ý chính trước giờ kiểm tra.

Lời kết
Qua đoạn trích Nỗi nhớ thương của người chinh phụ, người đọc thấm thía nỗi đau chia lìa mà chiến tranh gây ra và trân trọng hơn khát vọng hạnh phúc giản dị của con người. Để hiểu rõ thể thơ của đoạn trích và tìm đọc thêm một đoạn khác của Chinh phụ ngâm, em có thể xem:
- Thơ song thất lục bát là gì?
- Soạn bài Buổi tiễn đưa (trích Chinh phụ ngâm)
- Bài thơ Hai chữ nước nhà (Trần Tuấn Khải) – văn bản cùng Bài 8
- Soạn văn 9 Chân trời sáng tạo